Sống đức tin, đức cậy và đức mến nơi thầy giảng Anrê Phú yên

Đô. Đaminh Vũ Văn Thiên

Ngày mồng 5 tháng 3 năm 2000, Đức Gioan Phaolô II phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê Phú Yên, tiên khởi tử đạo của Giáo Hội Việt Nam. Thầy chết vì đạo ngày 26/07/1644 tại Kẽ Chàm, tỉnh Quảng Nam. Từ ngày đó tới nay đã 356 năm, Giáo Hội Việt Nam luôn luôn để ý tìm hiểu đời sống của vị anh hùng trẻ tuổi mới 19 tuổi đời đã can đảm hiến mạng sống mình vì danh Chúa Kitô, vì nước Trời nêu gương sáng ngời cho con cháu các thánh tử đạo trên quê yêu quý Việt Nam.

Theo lời Cha Đắc Lộ: Thầy giảng Anrê Phú Yên rất thông minh, tính tình hiền hậu, đơn sơ, chất phác, thanh bạch, quên mình lo giúp đỡ mọi người (xc. Alexandre Rhodes, Glorieuse mort du catheschiste André, tr. 76-78). Đó là những đức tính luân lý tự nhiên vẫn có nơi thầy giảng Anrê Phú Yên và thường có nơi các bạn trẻ Việt nam, đặc biệt nơi các bạn trẻ sống ở đồng quê.

Đây tôi sẽ nói tới Thầy giảng Anrê Phú Yên người anh hùng trai trẻ mới 19 tuổi đã sống và làm gương mẫu cho chúng ta về đời sống đức tin, đức cậy, đức mến, là ba nhân đức đối thần.

Nhờ những đức tính tự nhiên thầy Giảng Anrê Phú Yên đã có sẵn, như nói trên và nhờ ân sủng Chúa ban, đã giúp thầy sống ba nhân đức đối thần cách tuyệt vời.

Nên biết, thời Giáo Hội sơ khai, các thánh Tông Đồ đi tới đâu thì kêu gọi người địa phương ở đó cộng tác giúp các ngài trong lãnh vực truyền bá Tin Mừng của Chúa Kitô. Cha Đắc Lộ đã hoàn thành một công việc quan trọng, có thể nói đấy là nền móng cho sự xây dựng Giáo Hội Việt nam, đó là việc tổ chức “Hội Thầy Giảng” có quy chế sinh hoạt cộng đoàn. Cũng như thánh Anrê tông đồ xưa kia đã từ giã gia đình, từ giã nghề ngư phủ, giữa tuổi xuân xanh đi theo tiếng gọi của Chúa kitô. Ai ngờ 17 thế kỷ sau đã xẩy đến cho một Anrê khác, chính là thầy giảng Anrê Phú Yên, bỏ hết mọi sự để theo tiếng Chúa mời gọi. Được nhận vào “Hội Thầy Giảng” ở xứ Nam cùng với chính thanh niên khác, lựa chọn trong lớp ưu tú của giáo đoàn sơ khai lúc đó, Thầy Giảng Anrê Phú Yên bắt đầu thời kỳ tập sự. Khi đó hai trụ sở huấn luyện các thầy giảng là Hội An và Đà Nẵng. Năm 1643 đã tổ chức lễ khấn cho các thầy giảng tại nhà thờ Hội An. Trong bầu không khí trang nghiêm, sống sắng, mười thanh niên, trong số có Thầy Giảng Anrê Phú Yên, tay cầm nến sáng tiến lên trước bàn thờ. Sau nghi thức phủ phục thống hối và cầu nguyện Chúa Thánh Thần, các Thầy đặt tay trên sách Phúc âm thề hứa suốt đời phục vụ Giáo Hội, ở độc thân, vâng lời các vị thừa sai tới rao giảng Tin Mừng cho quê hương Việt Nam. Sau ngày đã tuyên khấn, cha Đắc Lộ chỉ thị cho các thầy giảng những việc phải làm khi vắng bóng giáo sĩ, các thầy được chia ra hai nhóm; một nhóm do thầy Inhaxiô cầm đầu hoạt động phía Bắc cho đến tận bờ sống Gianh. Nhóm hai phụ trách Miền Nam đến đèo Cả dưới quyền chỉ đạo của thầy Đamasô. Thầy giảng Anrê Phú Yên rất có thể xin vào nhóm hai miền Nam để thỉnh thoảng có dịp về thăm mẹ hay về ra mắt với họ hàng, nhưng thầy thuộc nhóm Miền Bắc luôn luôn hoạt động bên cạnh thủ lãnh Inhaxiô (xc. Alexandre de Rhodes, Voyages et Mission, 1854, tr. 193). Vì vâng lời hay lựa chọn tự do, cử chỉ này đã biểu lộ tinh thần siêu thoát sống đức tin, khiêm nhượng và tinh thần tận hiến vì Nước Trời. Một ngày kia 25 tháng 7năm 1644 lễ thánh Giacôbê tông đồ, vì lòng kính mến thánh Tồng đồng này Thầy giảng Anrê Phú Yên dọn mình xưng tội và sáng hôm đó, thầy dự lễ rước lễ rất sốt sắng. Cha Đắc Lộ sau khi đã làm lễ, tức thì cùng với mấy thầy giảng xuống thuyền đi Dinh Chiêm, có ý thăm quan Nghè Bộ (Ungnebo, Ounguebo) cốt lấy lòng ông vì nghe tin ông mới ở Chính Dinh về. Theo thường lệ, mỗi khi cha Đắc Lộ đi đâu thường đem Thầy giảng Anrê Phú Yên đi theo, nhưng hôm ấy thầy Anrê xin ở lại để săn sóc 4 thầy đang bị bệnh. Cha đồng ý cho thầy ở lại nhà. Không ngờ đức thương yêu của người thanh niên đạo đức ấy sắp được thưởng công bằng triều thiên tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam. Hôm đó vào quãng trưa, Thầy giảng Anrê Phú Yên mạnh dạn ra mặt hỏi bọn lính và nói: “Nếu các anh muốn bắt Inhaxiô thì vô ích, vì Inhaxiô không có ở nhà. Nếu muốn bắt tôi thì tôi sẵn sàng: tôi là giáo hữu, hơn nữa là thầy giảng, tôi có cả hai tội mà các anh gán cho Inhaxiô để bắt thầy ấy. Vậy thầy ấy mà có tội, thì làm sao tôi vô tội được”. (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort du cathèchiste André, tr. 11). Thầy giảng Anrê Phú Yên bị bắt mang xiềng xích vui vẻ đi giữa bọn lính, khiến cho người ta cảm tưởng bọn lính đó mới là người đau khổ chứ không phải là Thầy giảng Anrê Phú Yên. Sau khi xuống thuyền, thầy Anrê giảng cho bọn lính về đức tin. Bọn lính ngơ ngác nhìn nhau cảm động, chính những lời giảng dạy ấy mà quan Nghè Bộ dựa vào đó để giết thầy trong khi không bắt được thầy Inhaxiô.

Khi Thầy giảng Anrê Phú Yên bị điệu đến trình diện với quan Nghè Bộ, quan này tưởng rằng trẻ tuổi non dại không có đủ gan dạ, thế nào mình cũng thuyết phục được, quan nói: đã trót theo “tả đạo”, vậy hãy từ bỏ, quan sẽ giúp đỡ, nếu không quan có cách khiến cho hối không kịp. Tù nhân trẻ tuổi này chính là Thầy giảng Anrê Phú Yên bình tĩnh cương quyết mĩm cười và nói vắn tắt : “Quan và cả bọ hạ có thể giết tôi về phần xác dễ dàng nhưng không thể làm lay chuyển đức tin và lòng mến Chúa trong tâm hồn tôi”. Quan Nghè Bộ thấy thái độ kiên quyết của Thầy giảng Anrê Phú Yên, vô cùng tức giận, không nói lại nửa lời. Quả đúng như lời thánh Phaolô nói trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô: “Thiên Chúa đã chọn những người dại dột ở thế gian mà làm cho các kẻ khôn ngoan phải xấu hổ” (1Cor 1, 27). Quan lệnh cho lính đeo gông vào cổ Thầy giảng Anrê Phú Yên, tống giam vào ngục, ngày mai sẽ quyết định. Sáng hôm sau 26 tháng 07 năm 1644; quan Nghè Bộ triệu tập phiên tòa chớp nhoáng. Và bất chấp các ý kiến của số nhỏ những người tham dự phiên tòa, quan kéo được số tham dự, chức nhỏ hơn về phe với quan. Quan có đa số, quan liền quyết định lập án xử tử hai giáo hữu (một người cũng tên là Anrê 73 tuổi, ông già này cuối cùng cũng được tha còn lại giáo hữu Anrê mới 19 tuổi), quan không cần lời biện minh nào khác. Sau khi có án rồi, bọn lính điệu hai giáo hữu từ nhà lao ra trước tòa án để nghe tuyên án. Hai người đồng đạo chân bước đi vững vàng, tỏ vẻ vui tươi như đi dự tiệc cưới vậy, vai đeo gông mà vẫn hiên ngang vui mừng như người thắng trận trở về, hết lòng ca ngoại tình thương của Chúa.

Trong cùng ngày tuyên án, trước những giờ phút Thầy giảng Anrê Phú Yên sắp bị đưa ra pháp trường chịu tử đạo, có mấy người Bồ Đào Nha tới gặp thầy trong tù, thầy chắp tay ngửa mặt lên trời tạ ơn Chúa, rồi quay lại cám ơn các bạn ngoại quốc đã tận tâm với mình như vậy, cha Đắc Lộ chạy đến ôm hôn Thầy Anrê Phú Yên, hôn thánh giá của thầy, đôi dòng lệ tuôn trào, không sao nói được nửa lời. Thầy giảng Anrê Phú Yên nói lớn tiếng :”tôi là kẻ có tội” xin mọi người cầu cho tôi được chịu khó cho tới chết. Đầy lòng tin cậy, thầy nói tiếp: tôi chẳng sợ cơn điên dại của kẻ dữ, chỉ có thể giết mình phần xác, tôi chỉ sợ Đức Chúa Trời có quyền phạt cả hồn lẫn xác (xc. Alexandre de Rhodes, Relation Progès Foi, tr 31). Có lúc người ta kéo tới nhà tù đủ mọi hàng người, già trẻ lớn bé, cả người bên lương. Thầy giảng Anrê Phú Yên đón tiếp mọi người rất niềm nở, thầy nói: “Anh chị em, đối với Chúa Giêsu rất yêu dấu của ta, ta hãy lấy tình yêu đáp ai tình yêu. Chúa đã chịu đau khổ vì ta, ta hãy lấy sự sống đáp lại sự sống”. Thầy còn khuyên họ những điều tốt điều, giảng cho họ về đức tin, mà thầy sắp đổ máu làm chúng : “Anh chị em thấy rõ, tôi bị bắt và tôi sắp phải chết, chẳng phải vì tội lỗi nào khác, chỉ vì tôi đã nhìn nhận Chúa Trời Đất, con Một Người đã xuống thế gian cứu chuộc loài người. tôi chẳng sợ hình phạt nào mà người ta có thể bắt tôi chịu, tôi chỉ sợ lửa hỏa ngục đời đời, là hình phạt cho những ai chối từ không tin thờ Chúa Giêsu Kitô, là Chúa Trời Thật, anh chị em đừng từ chối ơn Chúa ban cho anh chị em, nhưng làm sao cho khỏi bị án phạt đời đời”. Thầy giảng Anrê Phú Yên quả là chiến sĩ vô địch về Đức Tin, nóng lòng chờ đợi từng giây phút, giờ hạnh phúc của mình. Thầy hỏi lính: “Sắp tới giờ chưa?. Tôi đã chậm trễ thế, còn chờ đợi gì nữa”. Thầy lại thường nói: Tôi tưởng như cửa thiên đàng đã mở ra cho tôi. Tôi thấy Chúa Giêsu đang đứng trước cửa đón tôi, bao nhiêu thánh Tử đạo giơ cho tôi mũ triều thiên và cành thiên tuế. Ôi Thiên Đàng! Hạnh phúc dường bao! Tại sao người tra trì hoãn lâu thế” (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort glorieuse d’Andé, tr. 46).

Vào khoảng 4 giờ chiều, một tên lính cho Thầy giảng Anrê Phú Yên biết sắp tới giờ đi xử, hãy chuẩn bị ăn đi, kẻo không kịp. Cha Đắc Lộ khuyên thầy dùng chút của ăn để có sức ra pháp trường. Thầy giảng Anrê Phú Yên ăn một vài cái bánh, uống một ly nước, rồi nói: “thế là đủ lắm rồi, chẳng cần gì hơn nữa, để dành ăn tiệc thánh trên thiên đàng”. Theo cha Đắc Lộ kể, sau đó thầy giục lòng tin, cậy, mến Chúa, dâng phú mình cho Chúa, luôn kêu tên : “Giêsu Maria, khiêm nhường cầu nguyện ơn Trên nâng đỡ”.

Cũng trong một ngày, vào khoảng năm giờ chiều, viên cai đội với bốn mươi lính nhận lệnh điệu Thầy giảng Anrê Phú Yên ra pháp trường. Họ tới mở cửa tù, ra lệnh cho Thầy giảng Anrê Phú Yên đang mang gông đi theo. Thầy giảng Anrê Phú Yên miệng nở nụ cười tươi tỉnh từ biệt các giáo hữu tới thăm, khuyên nhủ họ cầu nguyện cho sự hy sinh của thầy sắp chịu, rồi vui vẻ lên đường. Tới pháp trường, viên cai đội ra lệnh dừng lại, lính bao vây Thầy giảng Anrê Phú Yên, Thầy quỳ gối, ngước mắt lên trời cầu nguyện. Lính tháo gông cho thầy, lấy giây thừng trói ngang người: Thầy giảng Anrê Phú Yên biết là những giây phút chót đời thầy đã điểm, thầy quay về phía giáo hữu để từ giã lần chót với những lời thiết tha như sau: ”Xin anh chị em hãy trung thành với Chúa tới chết, không một điều gì có thể giập tắt lòng kính mến Chúa Kitô trong trái tim ta” (Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort d’Andre, tr 53).

Rồi Thầy giảng Anrê Phú Yên phó thác mình trong tay Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tử Đạo. Thầy đọc kinh “kính mừng” nhiều lần, kêu tên cực trọng Giêsu Maria rõ ràng. Và rồi Thầy giảng Anrê Phú Yên bị lính đâm ba lần ở sau lưng, sau vài giây lát tên lính khác tuốt gươm chém thật mạnh vào phía cổ bên trái, đầu thầy nghiêng về phía tay mặt, lính thấy Thầy vẫn chưa ngã xuống, liền chém một nhát nữa ở phía trước, làm ngã hẳn đầu chỉ còn dính sơ vào một chút da. Thầy giảng Anrê Phú Yên không còn nữa, nhưng hình ảnh gương can đảm tử đạo của Thầy vẫn mãi mãi sống trong lòng Giáo Hội Việt Nam.

Thầy giảng Anrê Phú Yên đã rơi đầu lãnh triều thiên tử đạo. Nhìn vào những sự cố đã xẩy ra trong cuộc đời của Thầy, như đã trình thuật vắn gọn trên đây, chứng tỏ thầy đã sống gương mẫu đức tính luân lý tự nhiên, đặc biệt thầy đã nêu cao tuyệt hảo ba nhân đức đối thần. Nói tới đời sống đức tin của Thầy giảng Anrê Phú Yên, ta thấy là thừa, vì chịu tử đạo là hình thức tuyệt dịu nhất chứng minh đức tin. Thầy giảng Anrê Phú Yên vì tin nên không cậy vào sức riêng của minh, trái lại khiêm tốn và cậy trông vào sự giúp đỡ của Chúa. Trong cả đời sống, trong lúc bị bắt, trong khi bị quan Nghè Bộ tra hỏi Thầy giảng Anrê Phú Yên luôn luôn phó thác tin cậy vào Chúa. Nhất là, đức tin và đức cậy nơi Thầy giảng Anrê Phú Yên được biểu lộ ra bằng đức mến nồng nàn: tận hiến cuộc đời phụng sự Chúa vì mến yêu Chúa và cũng vì yêu thương đã can đảm rao truyền lời Chúa giúp cho nhiều người tin theo Chúa. Nhiều chứng nhân, nhất là cha Đắc Lộ đã nhật thấy rất rõ Thầy giảng Anrê Phú Yên nhiệt tâm phục vụ, chu toàn trách nhiệm của bậc thầy giảng, của một giáo lý viên, luôn tỏ ra biết ơn, quý mến tất cả mọi người đã đến gặp thầy hay thầy có dịp gặp họ. Trước giờ phút chia tay ra pháp trường, thầy còn khuyên nhủ họ hãy vững đức tin, hãy cậy trông vào Chúa: anh chị em đừng từ chối ơn Chúa bao giừo, phải là sao cho khỏi hình phạt đời đời (xc. Alexandre de Rhodes, Glorieuse mort d’André, tr. 45). Thầy giảng Anrê Phú Yên cũng vì giầu lòng bác ái đối với anh anh đồng nghiệp nằm bệnh ở nhà. Lúc bọn lính xông vào nhà có mục đích bắt thầy Inhaxiô, nhưng không tìm được thầy ấy, đã bắt Thầy giảng Anrê Phú Yên thế vào. Và từ giây phút thầy Anrê bị bắt, bị điệu ra khỏi nhà là khởi điểm đoạn đường thầy ra đi tử đạo, thời gian trên đường đi tử đạo kéo dài lâu, chưa đầu 48 giờ đã dẫn đưa Thầy giảng Anrê Phú Yên tới đài vinh quang đổ máu chết vì đạo. Cuộc đời của Thầy giảng Anrê Phú Yên đã mở sang trang sử mới với danh hiệu: “Người chứng thứ nhất”, “tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam”.

Nguyện xin chân phước Thầy giảng Anrê Phú Yên ban cho các tín hữu trên khắp quê hương Việt Nam được phấn khởi noi gương sáng của Ngài, biết trung thành, can đảm, hiên ngang sống Đức tin, Đức Cậy, Đức Mến trọn vẹn.



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Cám ơn quý vị đã xem trang web này, xin giới thiệu cho nhiều người cùng xem.
Related Posts with Thumbnails

Tìm kiếm trên website MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Loading

Danh sách bài đã đăng