Hiển thị các bài đăng có nhãn TU ĐỨC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TU ĐỨC. Hiển thị tất cả bài đăng

1 phút suy tư

1 phút suy tư

Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.
Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người :

- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù..
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá...

Cho nên, ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn :

- Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Đặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Đặt trên chân để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với vợ chồng, anh em chị em.


Thân xác không tim thì thân xác chết,
Làm người không có tâm thì cuộc sống chỉ có hận thù và là mối nguy hiểm cho mọi người.


Thân Chúc Môt Ngày Bình An !




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

HỌC LÀM NGƯỜI



HỌC LÀM NGƯỜI

Ðại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học, liền học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ. Sau nhiều năm, cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đồ đệ này trở về, thưa với ngài Tinh Vân: "Bạch Sư Phụ nay con đã có học vị Tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa?" Ngài Tinh Vân bảo: "Học Làm Người", học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.
Ngài Tinh Vân cho rằng, bất luận là sĩ nông công thương, người ở tầng lớp nào có học tập là có tiến bộ, nay cùng chia sẻ với mọi người về những điều cần phải học.
- Thứ Nhất, "Học Nhận Lỗi". Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết chính là một lỗi lầm lớn. Ðối tượng mà mình nhận lỗi có thể là cha mẹ, bạn bè, mọi người trong xã hội, thậm chí nhận lỗi với con cái hay là người không tốt đối với mình, nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân. Học nhận lỗi là một điều rất tốt, là sự tu tập lớn.
- Thứ Nhì, "Học Nhu Hòa". Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta lại mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại dài lâu được, chứ cứng làm chi cho chịu thiệt thòi. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập. Người ta thường hình dung những người cố chấp, thì tấm lòng của họ, tính cách của họ rất lạnh, rất cứng y như một miếng sắt vậy. Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở, điều hòa thân tâm, dần dần điều phục tâm như ngựa hoang, như vượn chuyền cành này khiến cho nó nhu hòa mềm mại, thì cuộc sống mới vui tươi hơn, mới lâu dài được.
- Thứ Ba, "Học Nhẫn Nhục". Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên biển lặng, lùi một bước thì biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không. Các vị muốn sống, muốn sinh tồn, muốn sinh mạng này thì cần phải biết nhẫn, có thể hiểu rõ những đúng sai, thiện ác, tốt xấu của thế gian, thậm chí chấp nhận nó.
- Thứ Tư, "Học Thấu Hiểu". Thiếu thấu hiểu lẫn nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
- Thứ Năm, "Học Buông Bỏ". Cuộc đời như một chiếc va li, lúc cần dùng thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả.. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới có thể tự tại được.
- Thứ Sáu, "Học Cảm Ðộng". Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm bồ tát, tâm bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
- Thứ Bảy, "Học Sinh Tồn". Ðể sinh tồn chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu để với người thân.



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Tức giận cũng phải... học

Tức giận cũng phải... học
Mọi người đều cần học cách kiểm soát cơn nóng giận của mình, nhất là những người làm cha mẹ, có rất nhiều chuyện có thể khiến bạn bực mình nhưng biết cách kiềm chế sẽ giúp bạn nuôi dạy con tốt hơn.
Tất nhiên, không phụ huynh nào có thể tránh khỏi những lúc “phát điên” lên vì sự phá phách hay bướng bỉnh của trẻ nhỏ. Nhưng chính trẻ nhỏ lại mang đến cho bạn những bài học quý giá về cách kiềm chế và vượt qua cơn tức giận. Tính cách này không chỉ giúp bạn làm tấm gương sáng cho con mình mà còn mang lại nhiều điều tích cực cho công việc và cuộc sống của bạn. Sau đây là một vài mẹo nhỏ giúp phụ huynh kiểm soát sự tức giận đối với con cái:

1. Đặt mình vào vị trí của con

Hãy nhớ lại rằng thời thơ ấu bạn đã mong đợi những gì và đã buồn như thế nào nếu không nhận được sự cảm thông từ người lớn. Chẳng hạn, khi con bạn tỏ ra không thích ngồi vào bàn ăn, bạn dỗ dành mãi mà bé vẫn không chịu nghe theo, đừng phát cáu lên và la mắng bé, điều này sẽ khiến cho tình hình càng tồi tệ hơn. Hãy bình tĩnh và nhớ lại rằng lúc nhỏ bạn cũng đã từng biếng ăn như vậy và bạn mong đợi gì từ cha mẹ mình? Tất nhiên đó không phải là những lời la mắng hay ép buột, bạn thích những lời nói nhẹ nhàng, những câu chuyện hay trò chơi thú vị trong lúc giờ ăn. Hãy áp dụng điều này với con của bạn.


2. Đừng làm gì trong cơn nóng giận

Nếu tình hình rất “căng” và bạn khó có thể kiềm chế thì cũng không nên có những hành động bộc phát để rồi sau đó phải hối tiếc. Không ít phụ huynh vì quá nóng giận mà cư xử thô bạo hoặc làm tổn thương con mình để rồi sao đó phải dằn vặt bản thân vì trẻ nhỏ không đáng bị như vậy.

Sự bình tĩnh sẽ giúp bạn có được những giải pháp tích cực và khéo léo nhất trong mọi tình huống. Một khi bạn quá tức giận và khó chịu vì hành động nào đó của trẻ, đừng vội phản ứng hay đưa ra hình phạt ngay lúc đó, hãy dành 5 phút suy nghĩ và “hạ hoả”, sau đó phân tích, giảng giải, có thể kèm theo một hình phạt để bé hối hận vì những gì bé đã gây ra và thay đổi một cách “tâm phục khẩu phục”. Những cách cư xử nóng nảy của cha mẹ không chỉ làm tổn thương con trẻ mà chưa chắc có thể khiến bé thay đổi.

3. Tức giận cũng phải… học

Cơn giận dữ quả là điều vô cùng đáng sợ và trong khi tức giận, dường như bạn luôn muốn bùng nổ ngay lập tức nhưng điều này thật chẳng nên tí nào, nhất là khi nó lại xảy ra với những người thân yêu của bạn. Trong lúc tức giận, hầu như người ta không thể làm tốt bất cứ điều gì và thường cảm thấy hối tiếc về những gì mình đã làm trong lúc tức giận.

Bạn đừng tự cho rằng mình là người nóng tính và không thể kiểm soát được cơn tức giận của mình. Thực chất, mọi thứ đều có học học được, kể cả cách kiểm soát cơn tức giận. Nếu bạn thực sự muốn thay đổi và hoàn thiện mình thì không gì là không thể, bạn có thể học hỏi những người xung quanh, tham khảo qua các sách tâm lý thay thậm chí là tìm một chuyên gia tâm lý để giúp đỡ bạn. Đừng để con trẻ bị tổn thương từ cách cư xử nóng nảy của bạn và nên nhớ, trẻ nhỉ rất dễ học theo sự nóng tính của cha mẹ chúng.
Theo parentingresources/WTT



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Khiêm nhường

Khiêm nhường

Đức cha Bùi Tuần


Sống đạo đòi nhiều nhân đức. Bởi vì sống đạo thì phải sống đức. Một trong những nhân đức cần để sống đạo là đức khiêm nhường.

Khiêm nhường ví như một thứ muối thiêng. Nếu các nhân đức ví được như những món ăn nuôi dưỡng tâm hồn, thì nhân đức nào cũng cần có chút muối thiêng đó.

Trái lại, kiêu ngạo là một thứ thuốc độc. Việc lành nào bất cứ, nếu bị pha một chút thuốc độc kiêu ngạo vào, tất sẽ ra hư.

Có thứ khiêm nhường thật. Có thứ khiêm nhường giả.

Khiêm nhường giả.

Khiêm nhường giả thường là một hình ảnh mơ tưởng tự tạo. Coi khiêm nhường như một vinh quang, kết quả của những cố gắng tự sức. Để rồi có cớ nảy sinh tự đắc, lợi dụng trên đường danh lợi. Thỉnh thoảng người ta soi mình vào hình ảnh tự tạo đó, để tìm thích thú và thèm muốn được khen.

Nếu không cảnh giác, thì thứ khiêm nhường giả như thế sẽ rất nguy hiểm. Vì nó sẽ dễ trở thành thứ nọc độc có thể pha trộn vào mọi ý hướng đạo đức. Để rồi, sau cùng họ dùng việc đạo để tìm vinh quang ảo cho mình, từ những việc nhỏ đến cả những việc lớn bề ngoài mặc vẻ đạo đức. Hành trình của nó thường mang nhiều giả dối và mưu lược.

Khiêm nhường thật.

Trái lại, khiêm nhường thật thường phải trải qua những hành trình có nhiều phấn đấu. Phấn đấu với chính mình. Phấn đấu với lối sống cạnh tranh xấu của thế gian. Nhất là phấn đấu với ma quỉ, loại kẻ thù có nhiều xảo quyệt. Satan vốn bị Kinh Thánh coi là cha của kiêu ngạo, luôn tìm cách phá đức khiêm nhường.

Chính Chúa Thánh Thần tác động, làm nên sự khiêm nhường thật. Có thể nhận ra bằng những dấu chỉ này:

Con người cảm nhận sâu sắc mình yếu kém, hèn hạ. Họ rất thành thực nhận mình tội lỗi. Họ xem mình như người thu thuế cúi đầu cầu nguyện. Thực sự nghèo nàn. Thực sự khốn khó. Thực sự khiêm tốn: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13).

Sự cầu nguyện cậy trông Chúa phát xuất từ ơn Chúa cùng với sự cảm nhận sức mình yếu đuối. Ơn cậy trông đến dần dần một cách lặng lẽ, và kéo linh hồn về với Chúa một cách rất tế nhị. Nó làm cho linh hồn cảm thấy mình không ngừng cần phải đổi mới, để đón nhận được ơn cậy trông lôi kéo đó thường xuyên.

Từ sự cậy trông lôi kéo đó, linh hồn khát khao tìm kiếm chính Chúa. Sự gặp gỡ Chúa sẽ đem lại cho họ sự sám hối, tâm tình cảm tạ và thờ phượng.

Đồng thời, khi gần gũi Chúa, họ cảm thấy mình gần gũi mọi người. Có một tâm tình đồng cảm linh thiêng. Họ thấy mình chẳng có gì đáng gọi là đạo đức. Họ thấy mọi người đều là những người yếu đuối, nhưng được Chúa xót thương đỡ nâng tha thứ. Với cảm nghiệm đó, họ nhận ra mình có bổn phận phục vụ mọi người, người công chính cũng như người tội lỗi yếu đuối, theo gương Cha trên trời, là “Đấng cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45).

Vài hoa trái của khiêm nhường.

Như vậy, sự khiêm nhường thật sẽ đem lại cho người sám hối sự bình an và hoan lạc. Sự khiêm nhường, khi đúng là hoa quả của ơn Chúa Thánh Thần, sẽ không gây nên những ray rứt dằn vặt cho ta, dù ta có một quá khứ đầy lỗi lầm. Những dằn vặt bối rối này nhiều khi do ma quỉ khuấy lên, để ta không nhận ra được dung mạo đầy tình yêu thương xót của Cha nhân lành, Đấng vui mừng sung sướng, khi có dịp tha thứ cho những đứa con biết trở về.

Sự khiêm nhường thật cũng đem lại cho con người tâm tình vâng phục Lời Chúa một cách đơn sơ tin tưởng, cho dù dư luận muốn kéo họ về hướng khác. Thí dụ: về việc bố thí, làm việc từ thiện, cầu nguyện và ăn chay, Chúa Giêsu dạy hãy làm kín đáo. Vì Cha trên trời, Đấng hiện diện nơi kín đáo thấu suốt mọi sự kín đáo sẽ trả công cho họ (Mt 6,16-18). Họ vâng lời Chúa, cho dù nhiều cám dỗ giục làm khác đi.

Sự khiêm nhường thật cũng thường gây cho chúng ta được ý thức tự trọng chính đáng, và nhận thức được bổn phận tìm cách khéo léo giúp các người thuộc về mình sống trong sự thực một cách khiêm nhường.

***

Mùa chay năm nay, chúng ta đang sống với nhiều bất ổn và lo âu. Thú thực là riêng tôi cũng đang phải phấn đấu từng giờ với nhiều khó khăn tinh thần và thể xác, để có thể nói như thánh vương David: “Chúng xô đẩy tôi, mong tôi té ngã. Nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi” (Tv 118,13-14).

Tôi mong rằng: Những gì tôi vừa chia sẻ sẽ được coi là những hạt giống nhỏ về Tin Mừng mùa chay. Tôi xin phép được gieo rắc chúng trong một thời điểm đang có những chân trời chinh chiến đau buồn, mang nhiều đe doạ khủng khiếp cho cả phần hồn phần xác.

Ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Hãy xem Người khiêm nhường thế nào và khiêm nhường đến mức nào. Người đang dạy chúng ta: “Hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29).

Chúng ta cũng tin vào Lời Chúa phán xưa: “Chúng con hãy tỉnh thức, vì chúng con không biết ngày nào giờ nào” (Mt 25,13).

Sau cùng, chúng ta đừng quên lời thánh Phêrô: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau. Vì Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5,5).




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Tham ăn

Tham ăn

Ngày xưa, ở vương quốc Thái Lan, có một ngôi chùa rất lớn và đẹp, trụ trì ngôi chùa này là một ông sư còn trẻ nhưng lại nổi tiếng tham lam và ích kỷ.

Không biết ai đã đưa ông vào ngôi chùa này mặc dù đức hạnh ông ta không hề có. Trong sân chùa này có một cây táo rất sai quả, quả nào quả nấy to bằng nửa nắm tay người lớn và trái rất ngọt. Đến mùa quả chín nhà sư chỉ cho phép một mình được hái táo vì ông ta chỉ nghĩ đến bản thân mình mà thôi. Ngay cả những sư khác trong chùa cũng không được đụng tới.

Trong vùng có hai người nông dân nghe tiếng ông sư này tham lam liền tìm cách lừa ông ta một vố để dạy cho ông một bài học. Một trong số hai người liền tìm đến chùa ra mắt vị sư tham lam nọ và hỏi xin ít táo. Nhà sư nói:

- Không được, những táo này chỉ dành cho ta thôi. Không ai được hái đâu.

Người nông dân nài nỉ mãi nhưng nhà sư nhất quyết không cho. Cuối cùng, anh nông dân nói:

- Ông chưa hiểu ý tôi. Tôi sang mời ông chiều nay đến nhà tôi để ăn thịt hươu. Tôi xin ít quả táo để nướng chung với thịt hươu.

- Thế sao anh không nói ngay từ đầu? – Nhà sư thốt lên, mắt nhìn xung quanh xem có ai thấy không rồi tiếp – Anh cứ hái đi, cần bao nhiêu cứ hái. Trông vẻ mặt nhà sư lúc này rạng rỡ hẳn lên, không còn cau có như lúc đầu nữa.

Thấy đã trúng kế, anh nông dân mỉm cười đắc ý. Thế rồi nhà sư dẫn anh nông dân ra chỗ cây táo và cùng anh ta hái một túi đầy. Vừa hái táo nhà sư vừa hỏi về bữa thịt hươu sắp tới với vẻ mặt của một người sắp được đánh chén. Còn anh nông dân thì luôn miệng ca ngợi món thịt hươu nướng của mình.

Sau khi hái đầy bao táo, người nông dân cáo từ và hẹn chiều gặp lại.

Anh ta về được một lúc thì có một người nông dân khác vào xin táo và cũng bị nhà sư từ chối như anh nông dân lúc nãy. Nhà sư nghĩ: “Ta dại gì cho hắn, cho tên kia thì còn được mời đến ăn thịt hươu chứ cho tên này thì ta mất không, chẳng được lợi lộc gì?”. Nghĩ vậy nhà sư lắc đầu nguầy nguậy nhất định không cho.

Biết tẩy của anh ta, anh nông dân nói:

- Tôi đến mời ông đi ăn thịt gà, nhân tiện xin ông ít quả táo hầm với gà cho ngon. Bữa tiệc này chỉ có tôi và ông thôi, chớ ngại.

Nghe xong nhà sư mừng lắm, định bụng hôm nay sẽ được chén một bữa no nê thịt hươu và thịt gà. Nhưng ông đâu có biết sa vào bẫy của hai người kia. Thấy nhà sư im lặng, người kia nói:

- Ông thấy thế nào? Hay ông không thích ăn thịt gà của tôi?

Nhà sư vội vã đáp:

- Không phải, không phải, tôi rất vui lòng nhận lời mời của anh bạn. À mà nhà ông bạn ở đâu?

Anh nông dân đáp:

- Chỉ ở cuối xóm này thôi.

Tuy miệng hỏi vui vẻ như vậy nhưng trong đầu của nhà sư đã hình dung một con gà béo tròn đặt lên đĩa còn đang bốc khói nghi ngút. Và tất nhiên anh đựơc nhà sư mời ra sân và cho hái quả thoải mái trên cây táo đã nổi tiếng là "bất khả xâm phạm" của mình. Sau khi đã hái đầy một bịch táo, anh nông dân chào nhà sư ra về dưới con mắt ngạc nhiên của các chú tiểu trong chùa. Từ đó trước tới nay họ chưa bao giờ thấy nhà sư của mình cho ai nhiều táo như vậy.

Chiều đến hai anh nông dân cùng đến ngôi chùa nọ để mời nhà sư đi ăn tiệc. Họ gặp nhà sư và như đã bàn tính trước, một trong hai anh nông dân nói:

- Bây giờ sư ông đến nhà tôi trước, nhà tôi ở gần ngay đây thôi.

Người thứ hai phản đối:

- Không được! Đến nhà tôi trước vì cả nhà đang đợi.

Không ai nhường ai họ cãi nhau ỏm tỏi khiến nhà sư phải lên tiếng:

- Thôi thôi, được rồi, tôi sẽ đi với cả hai vị.

Hai người nông dân nháy mắt với nhau, họ đưa nhà sư đi lòng vòng khắp nơi, được một lúc mỏi chân quá, nhà sư nói:

- Đã đến chưa mà sao đi mãi vậy?

Hai người nông dân đồng thanh đáp:

- Sắp tới rồi, ông ráng lên, chỉ còn một đoạn nữa thôi.

Hai anh nông dân đáp trấn an nhà sư. Mãi đến lúc này nhà sư nọ vẫn chưa biết mình bị hai người đàn ông kia lừa.

Đến chiều nọ họ đã tới làng, đi một đỗi nữa đến ngã ba, một trong hai người nắm tay kéo nhà sư vào con đường phía bên trái và nói:

- Đã đến nhà tôi rồi, xin ông hãy qua nhà tôi trước, đánh chén xong hãy qua nhà ông kia.

Người kia đâu có chịu bèn chạy lại nói:

- Đâu có được, chính tôi mời ông qua nhà tôi trước.

Thế là họ cãi nhau. Còn nhà sư không biết phải đi theo ai trước nên chỉ biết phải im lặng.

Cãi nhau chán mỗi người bèn tóm một tay của nhà sư mà kéo về phía mình. Vừa kéo họ vừa chửi bới nhau cho đến lúc nhà sư không chịu nổi nữa phải thốt lên:

- Hãy để tôi yên! Tôi chẳng đến nhà ai cả, buông tôi ra!

Đến lúc này hai người mới buông tha nhà sư ra. Bây giờ ông ta đã quá mệt, vừa chẳng ăn đựơc gì, lại vừa phải nghe tiếng chửi rủa suốt buổi của hai người nông dân.

Nhà sư chẳng nói chẳng rằng, bỏ đi một mạch về với vẻ mặt mệt mỏi xen lẫn thất vọng vì hụt bữa ăn ngon, và ông ta cũng chưa biết rằng mình bị chơi một vố đau. Đợi cho nhà sư đi rồi, hai anh nông dân nhìn nhau cười đắc ý. Về phần nhà sư, ông không những mất một số táo đáng kể mà còn chẳng ăn được gì. Đúng là tham thì thâm!


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

THỎ và NGƯỜI


THỎ và NGƯỜI


Một con thỏ đi trong khu vườn rồi rơi xuống giếng. Người làm vườn biết giếng thì khô nên không còn ích lợi, còn thỏ lại già cũng chẳng ăn thua gì, nên đào đất lấp giếng và chôn sống luôn thỏ. Lạ thay, ông lấp nhiều đất xuống mà thấy con thỏ vẫn sống, lại đứng gần miệng giếng nữa. Nhìn kỹ, ông biết rằng, cứ mỗi lẫn liệng đất xuống, thì con thỏ lại lách, né sang một góc, rồi giũ đất rơi trên đầu, trên mình nó xuống và đứng lên lớp đất vừa rớt xuống. Chẳng mấy chốc nó lên tới miệng giếng và thoát chết.

(sưu tầm)

……….…

Đời người cũng thế. Có nhiều thứ áp lực: nhiều hiểu lầm, nghi ngờ; nhiều xuyên tạc, dựng chuyện; nhiều khống chế, chế tài; nhiều bách hại, trắc trở; nhiều gian nan, cay đắng; nhiều khinh dể, coi thường; nhiều vu oan, kết án; nhiều bất công, gian lận; nhiều gian ngoa, độc ác; nhiều bất trung, lừa dối; nhiều và rất nhiều thứ đổ lên đầu ta. Từ phía xã hội, giáo hội, rồi đến gia đình, vợ chồng, con cháu, xóm làng, đồng nghiệp, và cả sự dữ nữa.

Nếu chỉ nghĩ và biết được có thế thì ta sẽ cảm thấy đời người ảm đảm, thân phận hẩm hiu, lý tưởng mù mịt, tương lai mong manh, niềm tin yếu ớt, đời người bạc bẽo, cuộc sống bất ổn, đời này vô giá, đời sau khó tin. Và ta sẽ chẳng còn hứng thứ, không còn sức mạnh, càng không có đủ nghị lực để vượt khó, vươn lên.

Hãy nhìn vào con thỏ già mà bắt chước. Muốn vượt qua khó khăn, muốn chiến thắng, trước tiên cần phải sống, phải tồn tại.

Như hoa lá cỏ cây hướng về mặt trời thế nào thì con người cũng phải hướng về Đấng toàn năng như vậy. Con thỏ biết khéo léo để thoát chết, chẳng lẽ ta không hơn nó sao, khi khôn ngoan, hiên ngang tiến bước vào đời, đi ngang qua mọi thứ đau khổ bất lợi, đi ngang qua chứ không dừng lại.

Nếu ta biết giải phóng trái tim hỏi hận thù,

Nếu ta biết thanh tẩy trí óc khỏi ưu phiền,

Nếu ta biết sống đơn sơ, chân thành,

Nếu ta biết hào phóng cho đi thật nhiều,

Nếu ta biết giũ bỏ lại tất cả mọi thứ áp lực, mọi thứ nghịch lý của cuộc đời,

Nếu ta biết sống khiêm tốn, kiên trì và nhẫn nại, chắc chắn ta không những chỉ tồn tại, mà còn sống tốt, sống vui, sống khoẻ nữa.

Thời gian là ân sủng, và ân sủng cũng chính là thời gian. Suy nghĩ chút thôi cũng nhận ra rằng: thời gian đau khổ, bất hạnh, chuỗi móc xích của nghịch lý mà ta cho là nhiều ấy, thì cũng chẳng thấm vào đâu với cả bầu trời ân sủng được.

Tình yêu, sự sống, ân phúc, niềm vui, an bình, chia sẻ, nâng đỡ, tha thứ, bao dung, quảng đại bao giờ cũng nhiều hơn mọi thứ khổ đau, bất trắc.

Thiên Chúa muốn cho ta biết được giá trị đích thực của cuộc sống, hưởng được tình yêu ngọt ngào như thế nào. Nến những tiêu cực của cuộc đời chỉ là chút mắm muối làm cho món ăn thêm ngon. Nước mắt và đau khổ chỉ là thứ trang sức của hạnh phúc làm cho tình yêu thêm đẹp thôi.

Xét cho cùng đó cũng chỉ là những thử thách ngắn hạn để thanh luyện cho ta được tinh tuyền, được xứng đáng đón nhận chân lý bởi trời, nhận lãnh được hạnh phúc đích thực, hưởng được tình yêu và sự sống vĩnh cửu mà thôi.

Tạ ơn Chúa. Amen.




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm ?

Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến,

Phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm ?

(Thánh Vịnh 8,5)

Lời nói đầu

Ta đọc trong kinh cầu Tên ĐCG : « Chúa Giê-su là ánh sáng Đức Chúa Cha ». Anh sáng đó soi cho ta bỏ được cái nhìn trần tục, đầy những  « tham, sân, si » – nói theo kiểu nhà Phật  – làm cho ta nhìn  người khác một cách vụ lợi, ghen ghét và ngu si.  Không phải là vì người ta không biết yêu thương nhau, nhưng có yêu thương thì thường cũng chỉ hạn hẹp vào người trong gia đình, hay là người đồng đạo, ít khi thật có lòng quảng đại mở rộng ra với những người không quen biết. Hơn nữa vì phải cạnh tranh sinh tồn, cho nên quen nghi ngờ người khác, thậm chí nhiều khi còn gán cho người khác những mưu mô ám muội, những ẩn ý độc ác, rồi cứ theo thiên kiến như thế mà cư xử, chứ không muốn nghe ngưòi khác phân trần, và ít khi tìm hiểu thị phi một các khách quan. Từ đó thường sinh ra ghen ghét, xuyên tạc lời nói và công kích công việc người khác làm, cho rằng là do ác tâm.

Hãy Theo Thầy…

Hãy Theo Thầy…

http://i339.photobucket.com/albums/n445/batongvn/htt-1.jpg

§ Đặng Thế Nhân

Bạn Đường Đức Giêsu (14)

Các bạn trẻ thân mến,
Ở tuổi chập chững bước vào đời, nhiều bạn trẻ thường hay băn khoăn lựa chọn cho mình một hướng đi, một con đường, một đích đến. Nói cách khác, các bạn khởi sự hành trình tìm kiếm ơn gọi của bản thân mình. Có thật nhiều lựa chọn mở ra trước mắt bạn trẻ, có nhiều nẻo đường hấp dẫn đang đợi các bạn khám phá, nhưng trong thâm tâm các bạn đều ao ước bước chọn lựa cho mình một hướng đi đem lại ý nghĩa và giá trị cho cuộc sống. Không ít bạn trẻ đã khám phá ra ơn gọi của mình, đó là bước đi theo Thầy Giêsu.

Nói đến ơn gọi và đi theo Thầy Giêsu, thoạt tiên không ít bạn nghĩ rằng ơn gọi đó chỉ dành riêng cho những người đặc biệt, những người theo Chúa trong bậc sống tu trì. Thực tế không hẵn như vậy, theo Chúa là ơn gọi của tất cả mọi người dù trong bậc sống nào đi nữa. Điều làm nhiều bạn trẻ e ngại khi nói về ơn gọi theo Chúa có lẽ là điều kiện Chúa Giêsu nói đến trong Tin Mừng: “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16, 24)

Từ bỏ luôn là một thách đố. Từ bỏ chính mình lại là điều gì đó đụng chạm sâu xa đến chiều sâu của bản thân. “Từ bỏ chính mình và vác thập giá mình” đôi khi gây hoang mang cho tâm hồn nhiều bạn trẻ. Đức Giêsu đã đưa ra một điều kiện quá khó chăng? Vậy chúng ta cần phải hiểu thế nào lời dạy này của Đức Giêsu?

Đức Giêsu đưa ra những lời dạy trên đây trong bối cảnh Ngài loan báo cuộc thương khó của mình. Người môn đệ theo sát gót bước của Thầy Giêsu được mời gọi mặc lấy thân phận tôi tớ như Ngài. Trở nên giống Thầy Giêsu là dám từ bỏ những nghiêng chiều, những quyến luyến lệch lạc để sống cho những giá trị Tin Mừng. Từ bỏ làm chúng ta lo lắng vì chúng ta thường có xu hướng thu vén cho mình càng nhiều càng tốt. Thậm chí, nhiều khi chúng ta lệ thuộc và ao ước thái quá những sở hữu vật chất mà quên rằng cuộc sống hạnh phúc còn được xây dựng bởi những giá trị tinh thần.

Đức Giêsu đánh giá người khác không hệ ở những gì họ có nhưng bởi những gì họ là. Đối với Đức Giêsu, những sở hữu cá nhân đôi khi làm cản trở người ta đến với Nước Thiên Chúa và cách làm chủ bản thân và sở hữu của mình lại là lúc ta dám từ bỏ nó. Do vậy, sở hữu vật chất không thực sự phản ánh giá trị bản thân và từ bỏ không phải lúc nào ta cũng chịu thiệt thòi. Từ bỏ cũng là lúc ta đang vác thập giá của mình. Từ bỏ những hấp dẫn tạm bợ là lúc ta gặt hái những giá trị vĩnh cửu. Từ bỏ những nghiêng chiều của bản thân là lúc ta làm chủ những ước muốn và chiến thắng chính bản thân mình.

Bên dưới cách nghịch lý “được – mất” trong lời dạy của Đức Giêsu là chân lý dẫn đưa người ta đến tự do và thanh thản. “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” (Mt 16, 25) Có những điều ta khao khát chiếm hữu để rồi nhận ra rằng ta đang là nô lệ và lệ thuộc cho những giá trị chóng qua. Hay có khi ta chạy theo những giá trị tầm thường để rồi nhận ra rằng chúng chẳng đem lại điều gì ích lợi cho bản thân mình. Những lúc ấy, tuy ta được những điều lợi trước mắt nhưng lại đang đánh mất chính bản thân mình. Ngược lại, khi dám từ bỏ những quyến luyến và sống cho những giá trị cao quý, ta đang tích trữ cho mình kho tàng không mục nát và làm đẹp bản thân mình nhờ những giá trị vĩnh cửu.

Các bạn thân mến,

Theo Chúa là ơn gọi của tất cả chúng ta và ước vọng của Đức Giêsu là mỗi chúng ta trở nên con cái Cha Trên Trời ngang qua việc sống tròn đầy ơn gọi ấy. “Từ bỏ mình và vác thập giá mình” không trở thành gánh nặng nhưng giúp ta tìm được chính mình, trở nên người hơn bởi có thể làm chủ bản thân và trên hết, giúp ta sống theo mẫu gương của Thầy Giêsu để trở nên giống Ngài mỗi ngày.

Đi theo Đức Giêsu, sẽ có lúc ta nhận ra rằng mình được nhận lãnh nhiều hơn những gì đã từ bỏ. Chúa luôn đợi chờ chúng ta mở lòng ra với Ngài. Ta dám từ bỏ một chút riêng tư của mình, và chắc chắn Chúa sẽ đổ đầy những khao khát và ước vọng của ta với những quà tặng và ân sủng lớn lao. Ước gì giữa những lựa chọn rất thường ngày của mỗi người, chúng ta cũng có thể thân thưa với Chúa rằng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy, chúng con sẽ đến với ai? Thầy có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6, 68)

Đặng Thế Nhân




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Cầu cho các linh hồn mồ côi và xin Chúa giúp chúng ta tránh xa tội lỗi.

Huấn Luyện Tính Dục Trong Nếp Sống Độc Thân Của Giáo Sĩ, Tu Sĩ

Năm Linh Mục: Huấn Luyện Tính Dục Trong Nếp Sống Độc Thân Của Giáo Sĩ, Tu Sĩ

Cuộc “Nổi loạn Tính dục” (Sex Revoluton), tại Hoa Kỳ vào năm 1960, và trên thế giới gây nên tang tóc đổ vỡ trong các gia đình, đặc biệt cuộc khủng hoảng đã xâm nhập cả nơi thánh thiêng, tu trì, làm tiêu hao ngân quĩ của Giáo Hội, và giảm sút Ơn Thiên Triệu Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ.

Để giúp hiểu biết và giải quyết vấn đề từ nguồn gốc, trước tiên, cần giải thích về ý nghĩa của Tính Dục, hay Phái Tính, (Nam-Nữ)..., khởi nguyên đã được Mặc Khải từ Kinh Thánh trong Sách Sáng Thế và những Lời Giảng của Chúa Cứu Thế trong Sách Phúc Âm. Ngoài ra, ta cũng hiểu rằng: số kiếp con người theo bản năng tự nhiên, phú bẩm từ khi sinh ra, là một “hữu thể mang Phái Tính” (a sexual person), không thể huỷ diệt Tính dục của mình được, cho đến khi chết. Nhưng vì ý chí hùng mạnh của con người, -và dĩ nhiên cần Ơn Trên phù giúp- con người có thể “Thăng Hoa, hay Siêu Thoát” (Sublimation) Tính dục, như trong kinh nghiệm của các vị Thánh đã sống nếp sống “Khắc Khổ, Thần Nhiệm” (Ascetic and Mystic), chẳng hạn như gương Mẹ Chân Phước Teresa, Calcutta, hay Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Paulô IsI. Khía cạnh Huyền Nhiệm, Thần Bí này, mới thực sự là phương cách Sống và Huấn Luyện cao nhất, để giúp Giáo sĩ, Tu sĩ và những ai “tu tại gia”, độc thân, góa bụa, hay có đôi bạn, muốn duy trì nếp sống Khiết Tịnh, Kết Nghĩa với Chúa.

Trong bài khảo luận này, xin bàn về hai khía cạnh đào luyện tự nhiên: triết lý, giáo dục.

  1. Suy tư của các vị hiền triết, đặc biệt của Văn Hóa Việt Nam, đã dùng Lý trí và Luơng Năng, Lương Tri, để tìm hiểu “Con Tim” của con người ra sao ?
  2. Mấy Kinh Nghiệm và Thực hành về Nếp Sống Tu trì, Độc Thân, đặc biệt tại Chủng Viện XUÂN BÍCH (Society of Priests of Saint Sulpice)

I. Suy Luận Triết Lý Về Bản Năng Tính Dục Của Con Người

Ngoài nguồn Mặc Khải trong Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo, nhiều Tôn giáo khác trên thế giới, từ xưa tới nay, và rất nhiều triết thuyết, triết gia, …cũng đã đề cập đến vấn đề Tính dục của con người. Mỹ Nghệ như Điện ảnh, Hội họa, Điêu khắc, Âm nhạc, nhất là Văn chương Thi Phú, tiểu thuyết, v.v. thật phong phú vô tận, để ca tụng Tình Ái giữa Nam-Nữ, Vợ-Chồng, vì như đã định nghĩa về yếu tính của Con Người là: “Một Hữu Thể mang Tính Dục, Phái Tính” (a sexual being, a sexual person). Mọi suy tư, cảm nghiệm, và hành vi cử chỉ đều biểu lộ đặc tính của Phái tính riêng của mình.

Dùng Lý trí, Lương Tri, Tình cảm để phân giải ý nghĩa về đời sống Tính dục của con người một cách vừa chân thật, thanh cao, vừa quân bình, tế nhị, thì ta phải kể đến Minh Triết ÂM-DƯƠNG, trong nền Văn Hóa Việt Nam.

MINH TRIẾT ÂM-DƯƠNG CỦA VĂN HÓA VIỆT

Trong một bài báo viết trên tờ The New York Times, và đăng lại trên tờ The Seattle Times (Dec/11/2005), nhan đề” Ơn Thiên Triệu gia nhập Giáo Hội vẫn còn mạnh mẽ đối với một số người” (The Call of Church remains strong for some) ký giả Neela Banerjee, đại ý, đã có những nhận xét khá xác đáng về Ơn Thiên Triệu của chủng sinh gốc Việt Nam hiện đang tu luyện tại các Chủng Viện tại Hoa kỳ. Họ chiếm tỉ lệ 12%, tức 397 chủng sinh, trong tổng số 3.308. Được hỏi lý do tại sao, người Công giáo Việt nam, và Cộng đồng Công giáo còn quí trọng Thiên Chức Linh Mục trong Giáo Hội? Họ trả lời: Tội lạm dụng Tính dục làm hoen ố cá nhân, chứ không giảm bớt giá trị của chính Ơn Gọi. Ơn Thiên Triệu vẫn là tuyệt đỉnh về Phục vụ và Thành công. Đó là một Hồng Ân của Chúa ban cho gia đình. Nếu được hỏi: muốn con làm Tổng thống, làm Bác sĩ hay Linh Mục, thì phụ huynh có thể sẽ trả lời: muốn con làm Linh Mục. Ký giả bài báo trên đã kết thúc cuộc điều tra, đại ý viết: Sở dĩ một thiểu số người Mỹ-Việt (chừng 1% tổng số người Công Giáo Hoa kỳ, hơn 50 triệu), đã cung cấp cho Giáo Hội một con số khá lớn về Ơn Gọi, chứng tỏ người Việt-Mỹ vẫn còn bám vào Truyền thống, Gia đình, và Đức Tin (the grip tradition, family, faith still have on many Việtnamese-Americans).

Ở đây, xin nhấn mạnh đến hai yếu tố: Truyền Thống và Gia đình, tức là đặc điểm thuộc VĂN HÓA Việt. Về Đức Tin, Giáo Lý thì người Công Giáo bất cứ ở đâu trên thế giới đều học và tin như nhau, tuy cách sống Đạo có khác biệt tuỳ sắc thái địa phương.

Trong vấn đề tìm hiểu và huấn luyện về Tính Dục cho các giáo sĩ, tu sĩ, ta không thể bỏ qua yếu tố Văn Hóa, tức Truyền thống và Gia Đình của người dân Việt. Chính Văn Hóa Việt đã giúp nẩy nở và nuôi dưỡng Ơn Thiên Triệu, trong khi Văn Hóa sự Chết (lạm dụng dục tính, phá thai...) đã làm đui chột mầm non Ơn Gọi nơi thanh thiếu niên.

Bởi vậy, việc nghiên cứu Triết Lý Âm-Dương làm nền tảng cho mọi suy tư, sinh hoạt văn hóa của dân tộc Việt nam, là hữu ích để giúp vào việc tìm cách huấn luyện Tính Dục cho các chủng sinh. Vậy Minh Triết ÂM –DƯƠNG là gì? Những đặc tính và âm hưởng của triết lý này trong đời sồng như thế nào? (Xin đọc thêm sách: “Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo”, trang, coi Index: Âm-Dương ; và sách“Đạo Thiên Chúa và Dân Nước Việt”, trang 188-191; 276-282 )

ÂM- DƯƠNG là gì?

Theo các nhà dân tộc học, và khảo cổ, những chứng liệu khá vững chắc biện minh cho nguồn gốc Minh Triết ÂM-DƯƠNG phát xuất từ dân Việt, chẳng hạn, những bài khảo luận trong sách: “Tìm về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam” (Trần Ngọc Thêm). Ngày nay, chẳng những người Á đông, mà cả thế giới đều quen thuộc với hình vẽ”THÁI CỰC ĐỒ”, được trưng bày khắp nơi, trong nhà, trên bàn thờ, ngoài cửa tiệm. Đó là hình vẽ một vòng tròn lớn bên ngoài; bên trong vẽ một hình tròn nhỏ, chia ra hai phần bằng nhau, một bên màu đen chỉ ÂM, một bên màu trắng chỉ DƯƠNG; trong mầu đen, có một chấm Trắng; trong mầu trắng có một chấm Đen. Hai phần Đen-Trắng luôn bằng nhau về diện tích, nhưng luôn vận chuyển, đắp đổi cho nhau khi đầy, khi khuyết, nhưng vẫn giữ mực QUÂN BÌNH. Đây chính là biểu tượng cho Triết Lý ÂM-DƯƠNG ĐIỀU HÒA, đã được Qui Nạp thành Nguyên Lý, sau khi đã quan sát, và kinh nghiệm những hiện tượng thiên nhiên trong vũ trụ, nhân sinh. Nguyên lý ÂM-DƯƠNG còn được trừu tượng hóa bằng những nét gạch ngang: DƯƠNG là một nét gạch ngang liền (____); ÂM biểu thị bằng nét gạch ngang đứt (__ __).

Qua biểu tượng “Thái Cực Đồ”, trong Triết Lý ÂM-DƯƠNG, ta có thể suy diễn những đặc tính sau đây, có thể đem áp dụng để tìm hiểu đời sống Phái Tính, Dục Tính:

1/. Dân Việt, từ thượng cổ đã sinh sống gần thiên nhiên vì làm nghề trồng Lúa-Nước, nên đã quan sát các hiện tượng thiên nhiên như khí hậu, thời tiết trong trời đất, xoay vần nhịp nhàng điều hòa: Một năm bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, ngày-đêm, nắng –mưa, nóng-lạnh, giúp cho mùa màng, gặt hái được nhiều hoa quả. Mọi loài sinh vật: thảo mộc, động vật, và cả Nhân loại, cũng bị chi phối bởi Luật Âm-Dương: Nam-Nữ, Đực-Cái, Trống –Mái... để truyền sinh và gây nòi giống

Từ hiện tượng thiên nhiên bước sang lãnh vực Nhân Sinh, Nhân Văn, muốn cho đời sống được Điều Hòa, con người cũng cần áp dụng Luật Âm-Dương trong cách giao tế xã hội, đặc biệt trong HÔN NHÂN như câu thường nói: Có Âm –Dương, có Vợ-Chồng” . Theo Văn hóa Việt Nam, Phái Tính Nam-Nữ, phải dẫn đến sự phối hợp vợ-chồng, thì đời sống con người mới có sự Hòa hợp, Quân bình. Âm-Dương, Vợ-Chồng... tuy hai yếu tố khác nhau, nhưng bổ khuyết cho nhau, nâng đỡ nhau, và không tiêu diệt nhau. Do đó, việc Hôn Nhân, tức sự kết duyên của một Người Nam với Một Người Nữ, là việc Tự Nhiên theo bản năng con người. Bởi vậy, Văn Hóa Việt Nam không thể chấp nhận “hôn nhân của hai người đồng tính” (?), vì trái luật tự nhiên Âm-Dương Điều Hòa. Hơn nữa, Hôn Nhân do Tạo Hóa an bài, xếp đặt, với mục đích để hai người khác nhau về Phái Tính, về thể lý, về tâm lý, nhưng bổ túc và tương trợ cho nhau trong cuộc sống lứa đôi: “Hai mà Một, Một mà Hai.

Trong suốt dòng Lịch sử, từ khi lập quốc, Văn hoá Hài Hòa cùa dân Việt, luôn ca tụng Tình Yêu Lứa đôi, tức Phái Tính trong đời sống Hôn Nhân, bằng những câu Ca dao, Tục ngữ, hoặc truyện Cổ tích như Trầu Cau, Sơn Tinh Thủy Tinh, Hòn vọng phu.., những bài Hát Quan họ Bắc Ninh, Hát Trống quân, Ca trù với tiếng đàn, điệu vũ, thanh cao thoát tục, nhưng không kém lưu luyến tình ái, để ca tụng đời sống vợ chồng, gia đình.

2/. Ngày nay, người Việt trong nước và ngoài nước, còn giữ được nếp sống Điều Hòa Quân Bình trong đời sống Lứa-Đôi, Vợ-Chồng như Tổ Tiên xưa kia không?

Tại hải ngoại, qua một thời gian giao động khi mới tới định cư trên đất khách quê người, nhưng sau 30 năm, người dân Việt chẳng những không mất bản lãnh, mà còn bảo tồn và phát huy Văn Hóa Truyền thống ngày càng tốt đẹp hơn, như bài báo của ký giả Neela Banerjee đã trích dẫn ở trên về Ơn Thiên Triệu của các Giáo sĩ tu sĩ. Phong trào trở về nguồn, học hỏi về Lịch Sử và Việt ngữ cũng được cổ động khắp nơi. Về Văn Nghệ, đặc biệt về Âm nhạc, nhiều buổi Trình Diển tân cổ nhạc, vũ điệu dân tộc được ghi thành những CD, như: Thúy Nga Paris By Night, Asia, v.v. giúp cho các gia đình thưởng thức những giờ giải trí lành mạnh, và nhất là giúp giáo dục thế hệ trẻ biết thông cảm với những tâm tình Yêu Mến Quê Hương, Gia đình, đặc biệt là TÌNH YÊU LỨA ĐÔI, trong Hôn Nhân, với hầu hết những bản tình ca, được các ca sĩ, nghệ sĩ trình diễn một cách chừng mực, tế nhị, giầu tình tứ, nhưng không suồng sã, “khiêu dâm” (sexy)như nhạc ngoại quốc giật gân.

Tại quê nhà, theo tin tức lọt ra ngoài, các giới đồng hương Việt nam cảm thấy thương xót cho tình trạng nghèo đói, tham ô, vô thần của một xã hội xáo trộn, mất Điều Hòa, Quân Bình trong đời sống Tâm Linh của cá nhân, hôn nhân, gia đình, nên mới gây nên những thảm cảnh như: “lấy chồng Đài loan”, hoặc buôn bán trẻ gái làm mãi dâm, ăn chơi trụy lạc, chuốc lấy bệnh HIV/AIDS đang lan tràn.

TÓM LẠI, một cách không quá đáng: nhờ Minh Triết Âm-Dương Điều Hòa soi sáng, ta có thể giải nghĩa tại sao một số lớn những giáo sĩ can tội “lạm dụng tính dục”, mà nạn nhân phần lớn lại là trẻ con, con trai, cùng phái tính với giáo sĩ. Vì người có khuynh hướng” đồng tính luyến ái”, mang một tâm trạng bất bình thường, nhất là không hiểu biết, không cảm nhận được giá trị của Hôn Nhân, của Cha-Mẹ, của Vợ-Chồng, của Con-Cái. Trong Văn hóa Việt Nam, bất cứ ở đâu, hầu hết dân chúng vẫn còn coi người có khuynh hướng “đồng tính”là chuyện bất thường và là một “tai nạn” cho Gia đình. Bởi vậy, theo quan điểm Văn Hóa Việt, việc Tòa Thánh không chấp nhận người có khuynh hướng đồng tính nhận chức Linh Mục, là xác đáng để tránh hậu họa. Không hiểu biết, không tôn trọng giá trị thánh thiêng của đời sống Hôn Nhân, thì không thể sống nếp sống độc thân, Khiết tịnh được.

II. Mấy Kinh Nghiệm Về Việc Huấn Luyện Tính Dục

Sau đây là mấy cách Tu Thân đã thực hành, giúp cho con người giữ được thế Quân bình, Điều hòa trong đời sống luân lý, và thể lý, đặc biệt để TIẾT DỤC, trong nếp sống Độc Thân.

Hơn nữa, Khổng giáo đã được các vua quan Việt nam noi theo làm khuôn mẫu cho việc tổ chức gia đình, làng Nước và chương trình đào luyện cấp lãnh đạo. Vì thế mới có những khuôn vàng thước ngọc phải noi theo như: Tam Cương, Ngũ Thường, tứ Đức tam Tòng. Có thể một số lời khuyên răn đã lỗi thời, những mục đích của việc Tu Thân, Tiết Dục vẫn không thay đổi. Vào thời buổi nào cũng vậy, sự Tiết Hạnh của người con gái, hay con trai, trước khi cưới nhau, vẫn là lý tưởng cao đẹp nhất

2/. “NHÀ ĐỨC CHÚA TRỜI” Là Gì?

Ngày nay, cụm từ “Nhà Đức Chúa Trời”, ra như xa lạ ngay cả đối với người công giáo. Theo tài liệu của “Lịch Sử Giáo Hội Việt Nam”, tổ chức”Nhà Tu” này có thể đã được sáng lập từ thời các vị truyền giáo tiên khởi (Thời Cha Đắc Lộ..hay ĐGM Lambert de la Motte). Tổ chức này vẫn hoạt động mạnh cho đến năm chia đôi đất nước, năm 1954, tại các Giáo phận ngoài Bắc như: Hà Nội, Phát Diệm, Thanh hóa, Vinh, Hưng Hóa, hoặc với một hình thức tương tự như tại các Giáo phận: Bùi chu, Thái bình, Hải Phòng. Mục đích của Nhà Tu này là qui tụ những người nam, tình nguyện dấn thân lo việc truyền bá Phúc Âm trong Giáo Phận. Thành phần Nhà Đức Chúa Trời (Domus Dei) gồm có: Đức Giám Mục, các Linh Mục, các Thày Giảng, các Chủng sinh, (đang theo học tại các chủng viện) các Chú (giúp lễ cho Cha Xứ), và các Bõ (các người lớn tuổi giúp việc trong nhà Xứ). Tại các Giáo Xứ địa phương, mỗi Nhà Xứ gồm có: Cha Chính Xứ, một hay nhiều Cha Phó, các Thày giảng già, trẻ, một số đông các Chú giúp Lễ, và một số các Bô Bõ giúp việc.

Nếp sống tu trì như thế nào? Họ cam kết sống theo lời Khuyên của Phúc Âm: Khiết Tịnh (Độc Thân), Thanh bần, Vâng Lời. Mọi người sống chung trong một Nhà Xứ do cha Chính xứ làm Quản nhiệm điều hành mọi hoạt động mục vụ trong một Giáo Xứ. Mọi người cùng cầu nguyện chung, ăn chung, cùng ở chung nhà, và cùng chia nhau các phận vụ để phục vụ Giáo xứ. Vị Giám Mục cai quản toàn thể các Giáo Xứ trong Giáo Phận, cắt đặt hay thuyên chuyển các vị Chánh Xứ. Vị Giám Mục ngụ tại một trụ sở trung ương, thường gọi là “NHÀ CHUNG”, (ví dụ, Nhà Chung Hà Nội) nơi có Giám Mục cư trú, nhưng cũng là trụ sở vãng lai của các Linh Mục hay Thày giảng, chủng sinh, khi có việc cần nghỉ lại ít ngày.

Phương thức Huấn luyện nếp sống độc thân như thế nào? Khi các phụ huynh muốn dâng con mình để phụng sự Chúa và Hội Thánh, thì đem trình diện chú bé tuổi 12, 13 với một Linh Mục nhận làm “Cha Bảo trợ”. Trong một Nhà Xứ, cha chính hay cha phó được quyền “Làm cha quan thày” hay bảo trợ nhiều chú, tuỳ hoàn cảnh tài chính cho phép. Nhiều giáo xứ giầu có thể nuôi hàng chục chú bé cho ăn học, miễn phí. Cách thức bảo trợ, tuyển lựa này đã tạo nên một hệ thống gia đình thiêng liêng, gọi là “Linh Tông”, nghĩa là một Linh Mục từ khi chịu chức Linh Mục bắt đầu nhận bảo trợ một số chú bé, sau này nếu chú trở thành Linh Mục cũng sẽ nhận bảo trợ một số khác..thành ra có cha Cố, cha Bác, cha Chú và anh em cùng một Cha Quan Thày. Ngoài ra, các Linh Mục cũng được phép giới thiệu các thiếu nữ gia nhập các Dòng Nữ, nên hệ thống Linh Tông càng được mở rộng thêm, có Nam, Nữ đề huề.

Từ khi bước chân vào Nhà Xứ, Chú bé 12 tuổi đã có thể tham dự đầy đủ vào nề nếp sinh hoạt của một Cộng đồng tu sĩ. Chú được hoàn toàn tự do muốn ở lại tu hay xin trở về gia đình bất cứ lúc nào. Cho đến khi Chú được lên chức Linh Mục, trong khoảng thời gian thử thách và tu tập, chùng 15 năm (8 năm tiểu, trung học, 3 năm triết học, 4 năm Thần học), Chú có thể quan sát, chứng kiến nếp sống Độc thân của các Linh Mục, và các Thầy. Theo luật lệ của Địa Phận Hà Nội, được thi hành trong các Nhà Xứ, thì chỉ có người đi tu mới được sống trong khuôn viên Nhà Xứ. Phòng khách đặt ở ngoài cổng chính. Các Linh Mục không được phép tiếp phụ nữ trong phòng riêng-trừ bà mẹ ruột mới được vào phòng ngủ- (khi một chị giúp việc dọn phòng, thì Linh Mục phải ra khỏi phòng! Và ai sai lỗi luật này sẽ bị phạt vạ). Theo thống kê, từ khi làm Chú Bé cho đến khi chịu chức Linh Mục, tối đa chỉ được 4%, 5% là bền đỗ đến cùng. Khi sống trong Nhà Xứ với cha bảo trợ hay sau này chú bé vào học tại các Chủng Viện, câu châm ngôn làm khuôn vàng thước ngọc là: “Nunquam duo, semper tres” (nghĩa là: không bao giờ “Cặp đôi”, nhưng luôn “Cặp ba”, trong khi giao thiệp, chơi hay nói chuyện với bạn bè, để tránh dan díu” Đồng tính luyến ái”. Ngoài ra, để tập luyện và tự lượng sức mình có thể sống độc thân trinh khiết suốt đời được chăng, mỗi chủng sinh phải đi thực tập hai ba năm tại các Giáo Xứ: một năm sau khi mãn Trung Học, một hai năm sau khi tốt nghiệp Trường Triết học.

TÓM LẠI, Hệ thống “Nhà Đức Chúa Trời”, tại các Giáo Phận Miền Bắc Việt Nam, là một tổ chức mang nhiều sắc thái Văn hóa Việt, và chịu ảnh hưởng của các đạo giáo địa phương như Khổng giáo, Phật giáo, chẳng hạn danh từ: Cụ, (Cha) Thày, Cha Bác, Cha Chú, Chú (chủng sinh), thì bên Nhà Phật có: Sư Cụ, Sư Ông, Sư Bác, và Chú Tiểu). Các Linh Mục trong Giáo Hội Công Giáo gồm có: các Linh Mục Dòng (như ĐaMinh, Phan Sinh, Dòng Tên, Dòng Chúa Cứu Thế), và các Linh Mục Địa Phận (diocesan Priest, tiếng bình dân gọi là “Cha Triều”). Các Cha Dòng do Nhà Dòng đào tạo, nâng đỡ, và sống chung trong Tu Viện của Dòng. Còn các Cha Địa Phận do Giám Mục huấn luyện trong các Chủng viện, và sai đi quản nhiệm trong các Giáo Xứ. Như tình trạng hiện nay, tại Hoa kỳ, Pháp... các Linh Mục Địa phận sống trong các Giáo Xứ, vừa lẻ loi, cô độc, không có cộng đoàn “Nhà Tu” (như kiểu: NHÀ ĐỨC CHÚA TRỜI”) nâng đỡ về nếp sống độc thân, cho nên dễ sa ngã. Bởi vậy, Kinh Nghiệm Tu Thân Tu Đức về Đức Trinh Khiết của NHÀ ĐỨC CHÚA TRỜI, -dầu cần cải tiến về nhiều phương diện cho hợp thời-, là một Nếp Sống Độc Thân của các Linh Mục Việt Nam, rất đáng trân trọng, vì giúp bảo tồn, nuôi dưỡng và phát triển Ơn Thiên Triệu cho các Giáo Phận hiện nay đang thiếu các Linh Mục coi các Giáo Xứ.

3/. HUẤN LUYỆN NẾP SỐNG ĐỘC THÂN TRONG CHỦNG VIỆN XUÂN BÍCH

Hội các Linh Mục Xuân Bích (Dịch từ: Society of Priests of Saint Sulpice) là gì?

Hội này do Linh Mục Jean-Jacques OLIER (1608-1657) sáng lập, năm 1641 tại “Giáo Xứ Saint Sulpice ở Paris (Pháp), hiện vẫn còn hoạt động. Gần 400 năm nay, Mục đích của Hội, là qui tụ một số Linh Mục đồng chí hướng, để cùng nhau, vừa làm việc mục vụ trong các Giáo Xứ, vừa chuyên chú vào việc huấn luyện, đào tạo các Linh Mục cho các Giáo Phận . Khẩu hiệu của Hội là”PER MARIAM AD JESUM (Nhờ Mẹ Maria, đến cùng Chúa Cứu Thế). Hiện nay, Hội Các Linh Mục Xuân Bích, quản trị và giảng dạy tại các Đại Chủng Viện trên thế giới như: tại Pháp; tại VIỆT NAM (từ năm 1930, ở Hà Nội; năm 1954, ở Vĩnh Long, và Thị Nghè (Sàigòn), từ năm 1960, ở HUẾ, và Đà Nẵng. Tại Trung Hoa (ở Côn Minh, năm 1930, đóng cửa năm 1949); tại HOA KỲ (ở Baltimore, ở Washington D.C, Saint Patrick’Seminary, ở Menlo Park, CA,.: tại Nhật (Fukuoka), tại Canada, Columbia, Venezuela, Brezil (Nam Mỹ), Benin, Congo, Zambia (Phi Châu), Tahiti (Polynesie)

(Xin Lưu Ý: Quí Vị muốn biết thêm về Hội các Linh Mục Xuân Bích, tại HOA Kỳ, xin liên lạc Địa chỉ: Rev. Thomas R. Ulshafer, S.S. Phone: 410-323-5972)

Hiện nay, các Chủng Viện Xuân Bích, tại HOA KỲ, huấn luyện các chủng sinh về Tính Dục trong Nếp Sống Độc Thân, Khiết Tịnh, như thế nào?

Sau khi phát hiện cuộc khủng hoảng về lạm dụng Tính dục nơi các giáo sĩ trong các Giáo phận tại Hoa Kỳ, Toà Thánh và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã làm việc tích cực để đối phó với các vụ kiện, và bồi thường cho các nạn nhân. Hội Các Linh Mục Xuân Bích quan tâm đặc biệt về tình trạng khủng hoảng này, vì Hội trực tiếp tham gia việc huấn luyện, và giáo dục các chủng sinh cho các Giáo phận. Hội đã mở những buổi Hội thảo, huấn luyện cho các hội viên và bắt buộc các hội viện ký nhận cam kết thi hành “Chính Sách đối với Hành Vi Cử Chỉ Xấu về Tính Dục” (Policy on Sexual Misconduct)

a/ Sau đây chỉ xin trích dẫn một số cách thức đề phòng, hoặc tránh những cử chỉ, thái độ suồng sã, “khiêu gợi”, khi tiếp xúc với giới phụ nữ, thanh thiếu niên nam nữ, vị thành niên, hay trẻ nhỏ, (dưới 18 tuổi, Minors). Cũng kể vào loại “Minors” là những người lớn, nhưng chậm tiến, mắc bệnh thần kinh, hay khuyết tật.

- Mọi người cộng tác với Hội Xuân Bích trong các Chủng Viện, Chương Trình Huấn luyện.. đều bắt buộc phải tham dự chương trình dạy cách phòng ngừa những Hành vi cử chỉ xấu về Tính dục. Mọi Hội viên trong Hội Xuân Bích phải ký một tờ Cam Kết chịu Trách Nhiệm (an Affidavit of Responsibility), thi hành Chính Sách của Hội.

- Hội Xuân Bích cam đoan tích cực giáo dục các chủng sinh, đặc biệt các chủng sinh làm việc mục vụ với trẻ nhỏ (Minors), cần phải tránh những Hành vi Cử chỉ xấu về Tính dục, Sách nhiễu Tính dục, Động chạm, Khai thác, Lạm dụng Tính dục.

- Hành vi Cử chỉ Xấu về Tính dục (Sexual Misconduct) là: những lời nói bất hợp pháp, bất xứng hay những cách cư xử khiêu gợi dục tính- Sách nhiễu Tính dục (Sexual Harassment) là dùng lời nói hay hành động khiêu gợi kích dâm để tống tình, hay yêu cầu được chiều đãi thỏa mãn Dục Tính, để được tăng lương, lên chức, thi đậu. Sách nhiễu Tính dục sẽ tạo nên tình trạng đe dọa, sợ sệt nơi sở làm việc, và phá rối công việc học hành, hay tu trì.- Động chạm khêu gợi (Sexual Contact)là những hành vi động chạm với mục đích kích dâm, khêu gợi như sờ mó vào đùi, cơ quan sinh dục, mông hay ngực...- Khai thác Dục Tính (Sexual Exploitation) là những đụng chạm kích dâm giữa một vị giáo sư, Linh hướng, cố vấn... với sinh viên, bất kể ai khêu gợi trước.-Lạm Dụng Tính Dục một Trẻ Vị thành Niên (Sexual Abuse of a Minor) là dùng bạo lực, đánh lừa, quyến dũ một thiếu niên làm Hành vi động chạm khiêu dâm, bất kể ai khởi sự việc xấu đó.- Hành Vi Liên Hệ đến việc Lạm Dụng Tính Dục đối với Trẻ vị thành niên (Related Acts of Misconduct with a Minor) là những hành vi cử chỉ, tự nó không phải là hành vi khiêu dâm, nhưng có liên hệ, trong một bối cảnh mục vụ, giảng dạy, làm việc, chẳng hạn như: đánh tát, phát vào mông, nói chuyện tiếu lâm gợi dục, cho dùng dụng cụ khiêu dâm, khỏa thân, hôn môi, đấm bóp, vật lộn, ngủ chung giường, hay chỗ ở chật hẹp, ngủ qua đêm không có phép của phụ huynh, cố chấp trao đổi những hành vi, lời nói về ái tình, nhưng gây khó chịu bất mãn cho người khác, cho phép hoặc cung cấp rượu mạnh, cần sa ma tuý, hoặc giám sát thiếu niên khi đang say rượu, say thuốc phiện.-Những Cử Chỉ tỏ Tình Âu Yếm đối với Trẻ Nhỏ ( Certains signs of affection or approval in relation to a minor) vì không bất xứng, nên không cấm như: vỗ vai, vỗ lưng, bắt tay, đập vào tay, khen ngợi, quàng vai, và dắt tay em bé đi dạo chơi, cúi xuống ôm em bé. Trong hoàn cảnh này, cần lưu ý đặc biệt đến sắc thái Văn Hóa, phong tục tập quán của các sắc tộc

b/ Huấn luyện chủng sinh hay nhân viên có trách nhiệm coi sóc các Trẻ Nhỏ

Hội Xuân Bích đặc biệt lưu tâm, và khuyến khích những chủng sinh hay nhân viên tham dự những lớp huấn luyện chuyên môn do các Giáo phận địa phương tổ chức. Ngoài ra, dầu chưa có lý do để tin là đã xẩy ra việc “Lạm Dụng Tính dục đối với Trẻ Nhỏ”, nhưng nếu ai khám phá thấy những dấu hiệu khả nghi về cách giao thiệp không lành mạnh của một Hội Viên Xuân Bích, thì phải lập tức báo cáo cho vị Bề Trên địa hạt hay Tỉnh Dòng biết liền.

c/ Xử dụng Internet Hội viên Xuân Bích, ban giáo sư, và chủng sinh phải dùng máy computer thuộc Chủng Viện, hay của riêng cá nhân hay người khác, một cách hợp pháp và hợp luân lý. Hội Xuân Bích không dung thứ cho việc dùng Internet, e-mail vào những Hành vi xấu về Tính dục, vô luân hay bất hợp pháp. Hội Xuân Bích dành quyền khám xét các tài liệu dự trữ (files) của các nhân viên Văn phòng và các chủng sinh, khi xét thấy cần phải làm, để bảo vệ sự an toàn, và lành mạnh của một Cộng đoàn hay là để điều tra về những lời cáo buộc về Hành vi xấu về Tính dục.

d/ Hội Xuân Bích cam kết hợp tác thi hành những Điều Luật của Liên Bang, của Tiểu Bang, của Địa phương và của Giáo Luật và các thủ tục đã phác họa trong Chính Sách của Hội Xuân Bích. Mỗi hội viên Xuân Bích có nhiệm vụ phải tránh những hành vi xấu về Tính dục, lại phải phòng ngừa và bảo vệ các nạn nhân của Lạm dụng Tính dục.

ĐỂ TẠM KẾT, Cổ nhân đã nói: “Thời thế nào, kỷ cương nấy”. Ngày trước, xã hội Việt nam tương đối được an hòa, nề nếp, nhờ Minh Triết Âm-Dương Điều Hòa: “Thuận Vợ thuận Chồng tát Biển Đông cũng cạn”. Người “xuất gia tu hành” cũng được xã hội trọng vọng, không gặp nhiều khó khăn, nhiều trở ngại, cám dỗ. Tổ chức “Nhà Đức Chúa Trời” đã là nơi nương náu, tu trì của bao tâm hồn khát vọng đi tìm Nguồn hạnh phúc chân thật nơi Nhà Chúa. Ngày nay, trong một thế giới tục hóa, với cơn bão “cách mạng Dục Tính” làm tan hoang, xáo trộn đến cả nơi thánh thiêng. Do đó, muốn cứu vãn tình thế, cần những luật lệ chặt chẽ, nghiêm minh để bảo vệ Nếp sống tu trì, độc thân khiết tịnh. Trên đây là những cố gắng và ưu tư của Hội các Linh Mục Xuân Bích giúp huấn luyện hàng Giáo sĩ đối phó với cuộc khủng hoảng về Tính dục. Những biện pháp thực hành, những lời chỉ giáo rất hữu ích để nâng đỡ những ai muốn cam kết chấp nhận nếp sống Khiết Tịnh Độc thân, vì Tình Yêu Thiên Chúa và Tha Nhân.

Nhờ Ơn Chúa phù giúp, với ý chí tự do kiên trì, các vị Chân Tu đã có thể “Siêu Thoát”, hay “Thăng Hoa” đời sống Tính dục tự nhiên, lên “Nếp Sống Khiết Tịnh”, chính là nếp sống Khắc Khổ và Thần Nhiệm (Ascetic and Mystic) để kết nghĩa hoàn toàn với Chúa.

Nguồn: xuanbichvietnam

Lm Đường Thi



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Related Posts with Thumbnails

Tìm kiếm trên website MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Loading