Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NIỆM THẦN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NIỆM THẦN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Mạc khải cho người bé mọn

Mạc khải cho người bé mọn

“Lạy Cha, con chúc tụng Cha vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan thông thái biết điều đó, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn”.

Những lời này mời gọi người làm công tác thần học xem xét lại. Thần học là gì? Vai trò của nhà thần học là gì? Làm thế nào để làm công tác thần học cho tốt? Đức Giêsu chúc tụng Chúa Cha vì Ngài đã giấu, không cho những người thông thái, những người không nhìn nhận Chúa Con, biết được mầu nhiệm vĩ đại – mầu nhiệm Ba Ngôi, mầu nhiệm về Chúa Kitô. Ngược lại, ngài mạc khải cho trẻ thơ, những nepioi, những người ít học.
Với những lời này, Đức Giêsu mô tả cách đơn sơ điều đã xảy ra ngay từ lúc Người giáng sinh, khi các đạo sĩ từ phương Đông đến hỏi các luật sĩ, các nhà chú giải Thánh Kinh, xem Đấng Cứu thế sinh ra ở đâu. Các luật sĩ biết rõ vì họ là những chuyên viên Thánh Kinh. Họ trả lời ngay: Bêlem. Nhưng họ không cảm thấy chuyện đó có liên quan gì đến họ. Kiến thức chỉ là kiến thức và không tác động gì đến đời sống cả. Họ có thể cung cấp kiến thức nhưng không sáp nhập kiến thức ấy vào cuộc đời mình.
Rồi trong suốt cuộc sống công khai của Đức Giêsu, những chuyện tương tự vẫn tiếp diễn. Làm sao con người này, một người dân Galilê ít học, lại có thể là Con Thiên Chúa. Làm sao Thiên Chúa vĩ đại, Thiên Chúa duy nhất, Chúa của Trời và Đất, lại có thể hiện diện nơi con người này. Không thể chấp nhận được. Họ biết mọi sự, họ thuộc mọi lời tiên tri, họ biết cả Isaia 53, nhưng mầu nhiệm vẫn hoàn toàn bị che giấu đối với họ. Thay vào đó, mầu nhiệm lại được mạc khải cho người bé mọn, từ Đức Trinh Nữ Maria đến người thuyền chài bên hồ Galilê. Những người bé mọn này cũng như viên đại đội trưởng dưới chân thập giá biết rằng: đây là Con Thiên Chúa.
Những gì đã xảy ra thời Chúa Giêsu vẫn là chuyện xảy ra ở mọi thời. Nhiều học giả, chuyên viên, thần học gia vĩ đại là những bậc thầy của đức tin, những người đã dạy chúng ta nhiều điều. Họ đào sâu chi tiết trong Thánh Kinh và trong lịch sử cứu độ, thế nhưng lại không thấy chính mầu nhiệm, không nhận ra tâm điểm của mầu nhiệm: Đức Giêsu thực sự là Con Thiên Chúa, vào một thời điểm cụ thể trong lịch sử, Thiên Chúa đã đi vào lịch sử, làm người như chúng ta. Điều cốt yếu nhất vẫn bị che giấu đối với những bậc thông thái đó. Cặp mắt tâm hồn họ vẫn không mở ra trước mầu nhiệm.
Đàng khác, trong thời đại chúng ta, lại có những người bé mọn đã hiểu được mầu nhiệm. Hãy nhớ đến thánh Bernadetta Soubirous, hoặc thánh Têrêxa Hài Đồng với cách giải thích Thánh Kinh không mang tính khoa học nhưng lại đi vào tâm điểm của Thánh Kinh. Hãy nhớ đến những vị thánh và chân phước trong thời đại ngày nay: thánh Josephina Bakhita, Mẹ Têrêxa Calcutta, thánh Đamiêng, và nhiều vị khác.
Tại sao lại như thế? Phải chăng Kitô giáo là tôn giáo của những kẻ điên rồ, những người thiếu văn hoá và hiểu biết? Phải chăng đức tin sẽ bị dập tắt khi ánh sáng lý trí xuất hiện? Để giải thích điều này, có lẽ chúng ta nên có cái nhìn khác về lịch sử. Điều Đức Giêsu nói hoàn toàn chính xác như đã diễn ra trong lịch sử. Thế nhưng có một hạng người vừa bé mọn vừa thông thái. Mẹ Maria dưới chân thánh giá là nữ tì khiêm tốn của Chúa và cũng là người nữ vĩ đại được Thiên Chúa soi sáng. Thánh Gioan, người đánh cá bên hồ Galilê, cũng thế. Giáo Hội có lý khi gọi người đánh cá đó là nhà thần học, vì ngài đã thấy được mầu nhiệm của Thiên Chúa và loan báo mầu nhiệm ấy, ngài đã bước vào ánh sáng bất khả đạt thấu của mầu nhiệm Thiên Chúa. Cũng thế, sau Phục sinh, trên đường Damas, Chúa Kitô đã chạm đến con tim của Saulê, một người thông thái nhưng lại không thấy. Chính Saulê ấy đã trở thành Phaolô và đã viết cho Timôthê rằng vào lúc ấy, ngài đã “hành động vì ngu dốt” mặc dù được gọi là thông thái! Nhưng Đấng Phục sinh đã chạm đến Saulê. Ông bị mù nhưng lại bắt đầu thấy! Nhà thông thái bắt đầu trở thành kẻ bé mọn, và chính vì thế, Phaolô đã mô tả sự điên rồ của Thiên Chúa là sự khôn ngoan vượt trên mọi khôn ngoan của loài người.
Như thế, có hai cách sử dụng lý trí, có hai cách để làm người khôn ngoan hoặc bé mọn. Trong tất cả các ngành khoa học, bắt đầu từ khoa học tự nhiên, người ta áp dụng phương pháp nghiên cứu vật chất, ở đó lý trí tự đặt mình ở vị trí tuyệt đối, trên cả Thiên Chúa. Mà bởi vì Thiên Chúa không có phần trong thế giới vật chất đó, cho nên Thiên Chúa không hiện hữu. Cuối cùng, ngay cả thần học cũng áp dụng phương pháp đó. Người ta câu cá trong biển cả Thánh Kinh, sử dụng một loại lưới chỉ có thể bắt được những con cá có kích thước nào đó. Thế nên khi con cá lớn quá, vượt ngoài kích cỡ của tấm lưới, người ta không bắt được và kết luận rằng nó không hiện hữu. Chính với cung cách này mà người ta giảm thiểu mầu nhiệm Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, thành Đức Giêsu lịch sử thuần tuý: một khuôn mặt bi thảm; một bóng ma chứ không phải xác thịt và máu huyết; một con người bị chôn táng trong mồ, thối rữa ở đó và đúng là chết thật. Phương pháp ấy cũng câu được vài con cá với kích cỡ nào đó, nhưng chính mầu nhiệm thì lại để tuột mất, vì chính con người làm ra thước đo và đo cả Thiên Chúa! Con người tự hào về điều đó đang khi chính sự tự hào đó lại là sự điên rồ khủng khiếp, bởi lẽ con người tuyệt đối hoá những phương pháp không có khả năng đo lường những thực tại vĩ đại. Đó là thứ chuyên môn hoá có thể nhìn thấy đủ thứ chi tiết nhưng cái toàn thể bao trùm thì lại không thấy.
Do đó có một cách khác để sử dụng lý trí và trở nên khôn ngoan, đó là cách của con người biết nhìn nhận mình là ai, và nhìn nhận sự vĩ đại cũng như thước đo riêng của Thiên Chúa, mở lòng ra trong khiêm tốn trước hành động của Thiên Chúa. Chính nhờ nhìn nhận sự bé mọn của mình và thực sự chúng ta là thế, mà ta tiến gần đến sự thật. Khi đó, lý trí vẫn có thể phát huy mọi khả năng của nó và còn trở nên vĩ đại hơn. Khi đó, khôn ngoan không loại trừ huyền nhiệm nhưng dẫn ta đến gần huyền nhiệm là sự hiệp thông với Chúa, nơi Ngài hiện diện tròn đầy sự minh triết, tri thức và chân lý.
Đức Bênêđictô XVI,

Bài giảng cho Hội nghị thần học quốc tế, ngày 1-12-2009




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Suy ngẫm thể xác - linh hồn dưới góc nhìn triết học duy tâm

Theo triết học duy tâm, ý thức quyết định vật chất. Dưới góc nhìn đó, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về thể xác và linh hồn.

Thể xác con người là vật chất và linh hồn thật sự là ý thức của con người. Mỗi con người, đều có 2 phần là thể xác và linh hồn. Theo triết học duy tâm, linh hồn sẽ quyết định thể xác. Thể xác chỉ là cái áo không hơn không kém, chỉ khác rằng nếu cái áo bình thường thì con người có thể thay ra mặc lại, còn cái áo cao cấp này thì không thay đổi cho đến cuối đời. Như vậy, so với linh hồn, thể xác rất thấp bé, không giá trị. Thể xác chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian, nhưng linh hồn sẽ tồn tại vĩnh cửu. Nhiều nhà triết học cũng đã nhấn mạnh linh hồn vĩnh cửu, ví dụ như Decater có nói “tôi tư duy là tôi tồn tại”. Sự tồn tại của con người thực chất là sự tồn tại linh hồn chứ không phải tồn tại về thể xác. Thật vậy, một người có thể chết đi theo quan niệm “cái chết” thông thường nhưng có thể họ sẽ sống mãi trong lòng của mọi người, đối với mọi người họ không bao giờ chết. Đó là sự tồn tại vĩnh cửu linh hồn họ trong ý thức của người khác. Ngoài Decater, nhà triết học Platon cũng đã đề cao linh hồn, ông cho rằng tri thức đích thực không thể nhận biết được nếu không dùng tư duy con người (linh hồn nhận thức tri thức). Ông coi thường những giác quan của con người (được tạo ra từ thể xác). Đối với ông tri thức đích thực sẽ không nhận thức được bằng giác quan thông thường. Giống như người viết bài này, việc nhận thức “thể xác và linh hồn” cũng dựa vào tư duy chứ không dựa vào cảm giác

Dưới góc nhìn triết học duy tâm, phần nào con người đã không được sống thật với chính bản thân, với chính linh hồn vì đã bị cái thể xác rang buộc. Chẳng hạn, vì thể xác, con người ta phải cần cái ăn, cái mặc, nếu không ăn thì thể xác không tồn tại, nếu không mặc thì thể xác trở nên xấu xí. Từ đó dẫn đến người ta đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp…Dẫn đến sự tranh đua, sự ham muốn, … Điều đó phải chăng đã góp phần giết chết linh hồn? Và tất cả những điều đó phải chăng chỉ để bồi dưỡng cho thể xác tầm thường? Con người chung sống với nhau trên trái đất, có mối liên hệ với nhau. Nhưng trong cuộc sống đó, mối liên hệ đại đa số là mối liên hệ về thể xác. Ví dụ: 2 anh em trong cùng một gia đình sống chung với nhau từ nhỏ đến lớn, chỉ vì một miếng đất tranh giành nhau làm cho tình cảm anh em bị mất. Ở đây vật chất tầm thường (là miếng đất) đã tạo ra tấm màn che phủ linh hồn của 2 người làm cho sự ham muốn của thể xác đấu tranh lẫn nhau, sự ham muốn nào cao thì thể xác đó sẽ giành chiến thắng. Đó là sự sống giả tạo, sự sống không ý nghĩa. Trong phạm vi hạn hẹp của bài viết chỉ đưa ra một ví dụ, tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều ví dụ khác nữa.

Tất cả mọi người đều có cái áo là thể xác, đều bị thể xác ràng buộc. Nhưng sự ràng buộc ở người này ít hơn sự ràng buộc ở người khác, vì ở một số người linh hồn đã chiến thắng được thể xác, họ sống bằng chính linh hồn. Ví dụ: người biết xúc động trước một hoàn cảnh khó khăn, người chăm sóc cho những người bệnh HIV, một người tật nguyền đã vượt qua số phận để sống, một người sẵn sàng hi sinh bản thân vì người khác…

Trong thế giới thực tại, thực sự chỉ tồn tại vật chất – ý thức – hiện tượng, trong đó hiện tượng là sự ràng buộc giữa vật chất – vật chất, vật chất – ý thức, ý thức – ý thức. Trong đó sự ràng buộc giữa ý thức – ý thức có thể cũng do vật chất tạo nên, do đó sự sống của con người là một sự sống hư vô, ảo tưởng. Theo góc nhìn duy tâm, vì ý thức quyết định vật chất nên sẽ không có một công cụ, máy móc nào đo được, kiểm tra được ý thức (hay linh hồn) của con người vì tất cả các công cụ đo đều được làm từ vật chất, ý thức – linh hồn của mỗi người chỉ do mỗi người tự kiểm tra, cảm nhận và tự làm chủ. Cùng với triết học, khoa học tâm linh sẽ đi tìm câu trả lời linh hồn của con người sẽ đi về đâu khi linh hồn thoát khỏi cái áo giả tạo? Liệu có một thế giới mà không bị sự ràng buộc bởi vật chất? Và trong thế giới đó liệu rằng có hờn ghen, yêu thương, giận dữ? Con người làm sao để có thể làm chủ chính bản thân, làm sao để sống thực, sống bằng linh hồn không để thể xác ràng buộc?...

Cuộc sống chúng ta chỉ có ý nghĩa khi chúng ta sống bằng chính linh hồn. Mọi người phải biết thương yêu, che chở, giúp đỡ lẫn nhau, không ganh ghét, không đua đòi, không kì thị lẫn nhau. Chính mỗi người trong chúng ta phải góp phần làm cho xã hội này tốt đẹp hơn. Xin kết thúc bài viết bằng câu sau để cho mỗi người có những cảm nhận riêng:

“Một con én không làm nổi mùa xuân, nhưng nếu mọi con én đều nghĩ như vậy thì sẽ không có mùa xuân”

Nguyễn Cung Hoàng Nam



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Cái nhìn của Phanxicô về Thiên Chúa

Cái nhìn của Phanxicô về Thiên Chúa (Quảng giải Huấn Ngôn 16)
Căn đều Hai bên
"Nhìn Chúa" (videre Deum), chắc chắn đó là khát vọng lớn lao nhất của thánh Phanxicô. Vì thế thánh nhân đã dành một Huấn ngôn để quảng giải Phúc lộc 6 của Chúa Giêsu : "Hạnh phúc ai có lòng thanh sạch, vì sẽ thấy Thiên Chúa" (Mt 5,8).
Kiểu nói "nhìn Chúa" được Cha thánh dùng nhiều lần trong các Bút tích (Thư 2,3; Chúc thư 10); nguyên chỉ trong Huấn ngôn I, Cha thánh đã dùng 13 lần động từ "nhìn" (videre), cùng với các kiểu nói khác tương tự : "chiêm ngắm" (contemplari), "nhìn ngó" (intuitu). Sự kiện này gợi ý cho ta : "nhìn Chúa" là việc quan trọng mà mỗi anh em phải quan tâm. Hạnh phúc của chúng ta và của bao nghười khác lệ thuộc vào đó.

I.- NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ NHÌN THẤY CHÚA.
Muốn nhìn thấy Chúa, phải có "lòng thanh sạch". Thế nào là lòng thanh sạch ? Cha thánh hiểu theo một nghĩa rất rộng rãi : "Người có lòng thanh sạch là người biết khinh chê những của thế gian, tìm kiếm những của trên trời...".
1) Khinh chê những của thế gian (qui terrena despiciunt) :
Nói đến những "của thế gian", chúng ta thường nghĩ ngay tới tiền bạc và của cải vật chất. Điều đó đúng. Nhưng không phải chỉ có thế. Nếu ta nhìn vào kinh nghiệm của Cha thánh trong cuộc trở lại, ta sẽ thấy, điều mà Người phải từ bỏ đầu tiên là những dự định, những tham vọng, những ý riêng (2 Cel 6). Thiên Chúa đã cho thánh Phanxicô hiểu : "Ngươi hãy tự khinh dể mình, thích của đắng đót hơn sự ngọt ngào, nếu ngươi muốn nhận biết Ta" (2 Cel 9). Tự khinh dể mình là không tự cho mình là quan trọng, dẹp bỏ những khuynh hướng riêng và tự đặt mình vào địa vị tôi tớ để phục vụ tha nhân : đó là điều mà Phanxicô đã làm khi hôn một người phung, rồi từ đó dấn thân phục vụ những người xấu số ấy (2 Cel 9).
"Cái tôi", đó là cản trở lớn lao nhất mà con người phải thắng vượt để hỉeu biết và nhìn ngắm Thiên Chúa. Nhưng để tiến tới "lòng thanh trí sạch", theo kiểu nói mà Cha thánh dùng trong Huấn ngôn 16 này và nhiều chỗ khác (Thư 1,14.19; 2L 10,9) thì con người còn phải từ bỏ nhiều điều khác nữa : "(Satan) không muốn loài người đưa tâm trí về Chúa. Nên chi nó cứ quanh quẩn ưỡc ao chiếm lấy lòng người ta bằng mọi hình thức thưởng công hay giúp đỡ, và bóp nghẹn cùng xua đuổi Lời Chúa và giới răn Người ra khỏi trí nhớ; nó muốn lấy mọi công chuyện đời này và mọi nỗi lo lắng mà làm mù quáng lòng người để vào ở đấy... Trong "đức ái chí thánh là Thiên Chúa", tôi xin tất cả anh em, các vị phục vụ cũng như mọi anh em khác, hãy bỏ qua mọi ngăn trở và quên mọi nỗi lo lắng, áy náy để hết sức phụng sự, yêu mến, tôn thờ và sùng kính Thiên Chúa với lòng thanh trí sạch (mundo corde et pura mente), vì đó là điều Chúa mong muốn hơn cả" ( 1 L 22,17...23). Nhìn bên ngoài, những ngăn trở mà Cha thánh nói ở đây là những bận rộn của cuộc sống hằng ngày : công việc tay chân, công việc học hành, của thù lao, của bố thí; nhưng sâu sắc hơn thế nữa, đó chính là con người "tự nhiên", "cái tôi" hời hợt, hiếu động, háo danh, tham lam, mà Phanxicô gọi là "thân xác" : đó là nguồn mạch của mọi tội lỗi (1L 22,5) vì sự dữ nằm ngay trong lòng con người (Hn 10). "Lòng thanh trí sạch" không những mang nghiã tiêu cực trên đây, nhưng còn hàm chứa một nghiã tích cực, đó là :

2) Tìm kiếm những của trên trời (coaelestia quaerunt)
Nếu chúng ta ghi lại những điều mà Cha thánh thường khuyên bảo anh em phải tìm kiếm, chúng ta sẽ có được một ý niệm cụ thể về "những của trên trời" :
- Các anh em sống trong ẩn viện "hãy chuyên lo giữ thinh lặng, lo đọc các giờ thánh tụng và thức dậy đọc kinh khai nhật. Và trước tiên họ hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người" (Đời sống tu hành trong ẩn viện, câu 5).
- "Xin anh em đừng tìm kiếm những bộ đồ quí giá ở trần gian để đáng được mang y phục bất diệt và sáng láng trên Nước Trời" (1 L 2,17).
- Khi quảng giải ý nguyện "Ý Cha dưới đất cũng như trên trời", Cha thánh cầu xin : "Chúng con nguyện yêu Cha hết tâm trí, nghĩa là điều khiển mọi ý hướng của chúng con về Cha và tìm kiếm vinh hiển cho Cha trong mọi sự (honorem tuum in omnibus quaerendo, xem Bút tích tr. 198, c.5).
Vài câu nói trên cũng đủ để ta hiểu rằng "những sự trên trời" tức là Nước Thiên Chúa, là Thánh ý của Người, là đời sống vĩnh cửu và sáng láng mà Người ban cho con cái Người.

II.- NHÌN CHÚA nghĩa là gì ?
Những người có lòng thanh trí sạch "không ngớt thờ phượng, nhìn ngắm Chúa ..." (semper adorare et videre Dominum... non desistunt).
1. Ở đây tiếng "nhìn" đi liền với tiếng "thờ phượng" (adorare). Trong Huấn ngôn 1, tiếng "nhìn" lại thường đi với các tiếng "nhận biết" (cognoscere), "tin" (credere), "chiêm ngắm" (contemplari). Còn tiếng "thờ phượgn" lại thường đi kèm với những tiếng "Phụng sự" (servire), yêu mến (amare, diligere), tôn kính (honorare) (xem 1 L 22,23; Thư 1,19), "cầu nguyện" (orare) (1 L 22,27).
2. Như vậy "nhìn" ở đây không phải là động tác của đôi mắt xác thịt, nhưng là động tác của đức tin do Chúa Thánh Thần khơi dậy : "Bởi vì Thiên Chúa là Tinh thần, nên phải dùng Tinh thần (Spiritus) mới thấy được Người, vì chỉ tinh thần mới có sức nuôi sống, còn xác thịt chẳng ích lợi gì" (Hn 1,6-7).
3. Đàng khác, trong cái "nhìn"ấy, không phảr chỉ có lý trí hiểu biết (cognoscere, contemplari), nhưng là toàn diện con người tham dự vào động tác : bởi thế "nhìn" cũng đồng nghĩa với "thờ phượng", "cầu nguyện", "phụng sự", "yêu mến".

III.- THIÊN CHÚA LÀ AI
TRONG CÁI NHÌN CỦA THÁNH PHANXICÔ ?

Thiên Chúa, Đấng mà thánh Phanxicô tìm kiếm và cung chiêm là "Thiên Chúa hằng sống và chân thật" (adorare et videre Dominium Deum vivum et verum).
1. Kiểu nói này thường được Cha Thánh dùng (Kinh Ngợi Khen Thiên Chúa, câu 3; 1 L 23,15; Kinh Mãn nhật c.15; Hn 16). Nó phát xuất từ Tân Ước (1 Th 1,9) và được dùng trong Phụng vụ (Kinh nguyện Thánh Thể I). Chi tiết này gợi ý cho ta là : để tìm hiểu Thiên Chúa là ai, Cha Thánh đã dựa vào Lời Chúa trong Kinh Thánh, được Giáo Hội công bố trong Phụng vụ. Thiên Chúa của thánh Phanxicô là Thiên Chúa của Kinh Thánh, Thiên Chúa mà Đức Giêsu mạc khải.
Vai trò của Kinh Thánh luôn vẫn thế trong Giáo Hội : "Thánh Truyền đó, cũng với Thánh Kinh Cựu và Tân Ước,là như tấm gương mà Giáo Hội lữ thứ trên trần gian nhìn vào để chiêm ngưỡng Thiên Chúa"Giáo Hội Giáo Hội(Hiến Chế Mạc Khải 7, đoạn 2).
2. Các phẩm tính của Thiên Chúa hằng sống và chân thật được Cha Thánh kể ra một cách khá chi tiết trong Kinh Ngợi Khen Thiên Chúa (Bút tích tr. 159). Đó là một thứ Kinh cầu (litania) và "kinh cầu là một hình thức suy gẫm và chiêm ngưỡng của người bình dân ("Os justi meditabitur sepientiem : miệng người công chính niệm lẽ khôn ngoan"). Người ta suy gẫm không chỉ bằng lý trí, mà còn bằng miệng.
Trong lời kinh ấy, chúng ta hãy dừng lại ở một số phẩm tính mà Cha Thánh cũng thường nhắc tới ở những chỗ khác :
- "Ngài là Đấng Tối Cao"
- "Ngài là Đấng khiêm hạ".

a) Ngài là Đấng Tối Cao (Tu es Altissimus) :
Tiếng Phụng vụ"Đấng Tối Cao"Phụng vụ được thánh Phanxicô dùng 24 lần trong các Bút tích (4 lần trong Bài Ca Anh Mặt Trời). Nó biểu lộ một nét độc đáo trong cái nhìn của Cha thánh về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng "duy nhất, thánh thiện, mạnh mẽ, lớn lao mà loài người không thể nói Tên được Bài Ca Mặt Trời và 1 L không thể diễn tả được. Bởi thế hình thức phủ định là hợp hơn cả khi nói về Thiên Chúa: "Người là Đấng vô thuỷ, vô chung, không hề thay đổi, chúng ta không thể thấy được, không thể hiểu được, không thể thấu đáo được... (1 L 23,34).
Cho dẫu thánh Phan-xi-cô có tiến xa trong đời sống huyền nhiệm, thì Thiên Chúa vẫn là Đấng bí ẩn nhiệm mầu. Những phẩm tính dưới hình thức phủ định vừa kể trên hé mở cho chúng ta thấy kinh nghiệm đức tin của thánh Phanxicô : đó là một cuộc hành trình trong đêm tối như thánh Grêgôriô thành Nysse ngày xưa đã khéo diễn tả. Lời kinh mà Cha thánh đọc trước cây thánh giá ở San-Damiano diễn tả phần nào cái kinh nghiệm ấy : "Lạy Thiên Chúa tối cao và vinh hiển, xin chiếu sáng cảnh tối tăm lòng con..." (Bút tích tr. 163).
b) Ngài là Đấng khiêm hạ ( Tu es humilitas).
Thiên Chúa tối cao cũng là Đấng rất gần với con người, vì Người là Đấng khiêm hạ. Tiếng khiêm hạ ở đây không phải là một thứ nhân đức, nhưng là một động tác qua đó, Thiên Chúa hiến thân cho loài người trong Đức Kitô. Chúng ta hãy lắng nghe Cha thánh nói "Oi cao sang kỳ diệu, ôi nhân hậu lạ lùng ! Khiêm hạ cách cao thâm, cao thâm cách khiêm hạ. Chúa tể càn khôn, là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa đã hạ mình xuống (se humiliat), ẩn náu trong hình bánh nhỏ mọn để cứu độ chúng ta !Ânh em nên chiêm ngắm sự khiêm hạ của Thiên Chúa (Videte humilitatem Dei...) và bày giãi tâm tình anh em trước mặt Người và hãy hạ mình xuống để Người nâng anh em lên. Anh em đừng giữ lại chút gì trong bản thân anh em làm của riêng tư để cho Đấng đã hiến trọn mình cho anh em sẽ nhận lấy toàn thân anh em " (Thư 3,17-29, lưu ý cách Cha thánh nối kết các chữ tối cao và khiêm hạ).
Như ta thấy, tự hạ ở đây không có cái nghĩa luân lý là tự xem mình vô giá, nhỏ nhoi, nhưng có nghĩa là hiến thân mình. Như vậy, sự khiêm hạ biểu lộ động tác Thiên Chúa, Chúa Tể của vũ trụ (Dominus universitatis) đi xuống với con người qua mầu nhiệm Nhập thể, và mầu nhiệm này được nối dài qua bí tích Thánh The : "Này đây, mỗi ngày Người hạ mình xuống (quotidie humiliat se), như xưa Người rời ngai vàng xuống trong lòng Đức Trinh Nữ. Mỗi ngày Người đến với chúng ta dưới hình thức khiêm hạ (Hn 1,16).
Chúng ta có thể nói khiêm hạ là danh hiệu khác của Tình yêu :
- Tình yêu ấy nằm ở chỗ Chúa Cha trao ban Con của Người cho ta và chỉ những ai có Chúa Thánh Thần trong mình thì mới tiếp nhận được (Hn 1,13); bởi thế Thiên Chúa của Phanxicô không phải là một danh từ trừu tượng, nhưng là Ba Ngôi Vị cụ thể : Cha, Con và Thánh Thần.
- Tình yêu ấy được biểu lộ trong suốt lịch sử cứu độ mà 3 đỉnh cao là Sáng tạo, Cứu chuộc bằng cái chết của Đức Giêsu, và cứu độ một cách viên mãn trong ngày quang lâm; bởi thế, Thiên Chúa của Phanxicô thường mang các tước hiệu : Đấng Tạo Hoá, Đấng Cứu Chuộc, và Đấng Viên Thành (Creator, Redemptor et Salvator) : 1L 16,9; 23,27.33; Bài quảng giải Kinh Lạy Cha, câu 1).
c) Vì Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu của Người một cách kỳ diệu như thế, nên Cha thánh còn chiêm ngắm Người qua danh hiệu "Đấng Tốt lành" (Bonum) : "Ngài là Sự Thiện, Ngài bao gồm sự Thiện, Ngài là Sự Thiện Tuyệt đỉnh..." (Kinh Ngợi khen Thiên Chúa, 1 L 17,17-19; 23,28)
Các tước hiệu của Thiên Chúa đến dồn dập trong các câu nói của Phanxicô có thể làm cho người đọc nhàm chán. Nhưng chúng ta đặt chúng vào trong môi sinh của chúng (trong Sitz im Leben), tức là trong cái kinh nghiệm đức tin, trong cái nhìn của một con người đang tìm kiếm Thiên Chúa, lúc ấy ta mới hiểu Thiên Chúa đối với Phanxicô không phải là một hình ảnh mơ hồ, lạt lẽo, nhưng là một AI đó, là "Đức Chúa, Thiên Chúa sống động và chân thật" (Dominum Deum vivum et verum).
IV. NHÌN CHÚA LUÔN LUÔN
Những người có lòng thanh trí sạch là những người "không ngớt thờ phượng và nhìn Chúa luôn luôn" (semper adorare et videre Dominum...non desistunt) (Hn 16). Lưu ý là trong câu này Cha thánh đã dùng chữ "luôn luôn" (semper), lại còn thêm chữ "không ngớt" (non desistunt).
Rõ ràng là Cha thánh muốn nhấn mạnh với anh em : việc "khinh chê những của thế gian" để tìm kiếm, thờ phượng và nhìn ngắm Thiên Chúa không phải là công việc của một ngày, nhưng là công việc của từng giây, từng phút và của suốt đời. Cha thánh còn nói trong Luật 1 (23,21): "Khắp mọi nơi, mọi lúc, và mọi thời đại, hàng ngày chẳng lúc nào nguôi, chúng ta hãy chân thành và khiêm hạ tin vào Người, chiêm ngưỡng và yêu mến Người trong lòng, tôn kính, thờ lạy và phụng sự, ca ngợi và chúc tụng, tôn vinh và tung hô, ngợi khen và cảm tạ Người là Thiên Chúa đời đời, Thượng Đế cao sang"(xem thêm 1 L 22,24-28).

Kết luận :
Khi anh Lêô phải trải qua một cơn thử thách nặng nề và ao ước được thánh Phanxicô tự tay viết cho ngài vài câu Kinh Thánh, để tìm một chút an ủi, Cha thánh liền viết kinh "Ngời khen Thiên Chúa" và kết thúc bằng một lời chúc lành, trong đó ta hãy chú ý đến các câu :
"Nguyện xin Người (Thiên Chúa) tỏ tôn nhan Người (Ostendat faciem suam) cho con và thương xót con".
"Nguyện xin Người ghé mặt lại (convertat vultum suum) cùng con và ban cho con bình an" (Bút tích, trang 161).
Và khi Lêô lãnh được tấm giấy Cha thánh trao, cơn cám dỗ liền tan biến (2Cel 49).
Quả thực Cha thánh thuộc vào hạng người như được nói trong Kinh Thánh :

"Đây giống nói những ai tìm Chúa,
Tìm nhan thánh Chúa Trời Gia-cóp".

Chính vì Cha thánh đã ra công tìm kiếm và cung chiêm khuôn mặt tuyệt diệu của Thiên Chúa màNgười đã có thể chiếu giãi ánh sáng tình thương và an bình của Thánh Diện cho anh em mình.


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Cầu cho các linh hồn mồ côi và xin Chúa giúp chúng ta tránh xa tội lỗi.
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Ý Nghĩa Thần Học Về Cầu Nguyện

Ý Nghĩa Thần Học Về Cầu Nguyện

http://i261.photobucket.com/albums/ii69/marineyanzy/Pray.jpg

Có nghĩa lý gì khi ta không nhận được những cái ta kêu cầu trong lời cầu nguyện? Để hiểu tác dụng của cầu nguyện, trước hết, ta phải có một nhận định sâu xa về tình bạn. Một người bạn chân chính luôn luôn có chủ đích đem đến cho người mình mến thương những gì họ mong muốn. Như vậy, tình bạn đích thực luôn luôn muốn sự tốt lành cho nhau. Đó không phải là tình yêu khi Thiên Chúa rộng lượng đáp lại những sự mong muốn mà ta đặt nơi Ngài khi cầu nguyện, nhưng vì Thiên Chúa đã mời gọi ta làm bạn với Ngài bằng cách dựng nên ta giống hình ảnh của Ngài.


Đặc ân của tình bạn thánh này cũng giải thích tại sao một vài đòi hỏi mà ta đặt ra trong cầu nguyện không được nhận lời. Thí dụ, bình thường thì ta muốn những cái tốt đẹp cho mình, nhưng thực ra những cái đó không phải. Có khi ta đòi hỏi những cái mà không có sự suy nghĩ chín chắn hay không có ý thức đúng đắn về hậu quả của nó. Đôi khi ta không thể thấy trước được những cái ta đòi hỏi mà nếu được nhận lời, nó sẽ có ảnh hưởng không tốt đến đời sống của ta. Như một người bạn tốt, Thiên Chúa không nhận những lời cầu khẩn mà xem ra bề ngoài có vẻ tốt, nhưng Ngài chỉ nhận những gì có ích lợi thực sự cho ta. Hơn nữa, vì người bạn này là người bạn thánh, Ngài có sự khôn ngoan để thông biết những gì tốt cho ta mà ta không thể biết được một cách chắc chắn.


Một tình bạn mà sinh hoa lợi tốt tùy thuộc vào nỗ lực cương quyết, rộng lượng từ bỏ mình, và sự liên hệ đều đặn với nhau. Sự cầu nguyện chân thật cũng như vậy. Đôi khi lời cầu không được nhận lời vì khi ta cầu nguyện, ta không cầu nguyện cách bền lòng và nhiệt tâm.Với sự lơ đễnh và không sốt sắng đến lời cầu của mình, ta có thể đánh mất động lực để đưa lời cầu của ta lên cùng Chúa. Đã là bạn thì đừng có hối bạn mình; và sự nhẹ dạ cũng như hay thay đổi lòng vẫn là kẻ thù số một của tình bạn. Cũng vậy, sự bền bỉ, kiên tâm và nhẫn nại cung cấp lương thực tinh thần cần thiết để thấy lời cầu của ta được đáp lời khi đẹp lòng Chúa.


Hơn nữa, ta càng gần bạn ta bao nhiêu, càng chú tâm và hòa hợp với họ bao nhiêu, thì ta càng dễ dàng được họ giúp đỡ những gì mà ta cần nơi họ. Trong đời sống đức tin, một khi ta không tìm đến Chúa với cả một nội tâm chiêm niệm, bằng một lòng thiết tha yêu mến và khiêm cung nhưng rắp tâm thì ta sẽ không ngạc nhiên nếu lời cầu xin của ta không được nhận lời. Tùy vào sự gần gũi và thân mật của ta với Chúa sẽ tạo ra một đường hướng thích hợp để Chúa lấp đầy những nguyện vọng mà ta đặt nơi Ngài.


Cũng thế, khi nào ta rời xa bạn mình vì một lý do nào đó, là khi ấy ta đánh mất hy vọng họ sẽ thỏa lấp những ý muốn của ta. Tội lỗi làm ta xa rời Thiên Chúa sẽ tạo nên một kết quả tương tự như thế trong đời sống cầu nguyện của mình.


Tuy nhiên, cũng có một lý do rõ ràng tại sao có lúc Thiên Chúa không nhận lời ta khẩn nguyện. Ta đã có kinh nghiệm khi từ chối một điều gì với bạn mình chỉ vì ta biết điều ấy sẽ gây tổn thương đến họ. Ta cũng có thể từ chối vì kinh nghiệm và trực giác cho ta biết có những điều đi ngược lại với yêu cầu nhưng lại có ích lợi hơn những gì mà họ đang đòi hỏi. Tương tự như vậy, đôi khi Thiên Chúa quyết định không nhận lời xin của những người mà Ngài yêu thương cách đặc biệt để cung ứng cho bạn hữu của Ngài với những cái có lợi hơn cho hạnh phúc và sự thánh thiện của họ. Những cái đó có thể ta chưa bao giờ nghĩ tới... những cái đó ta chưa bao giờ nghĩ ta có thể có được. Ý nghĩa này làm cho thánh Âu-Cơ-Tinh (Augustine) viết: "Thiên Chúa thường không nhận những gì ta mong muốn để Ngài có thể ban cho những cái mà ta mong muốn hơn."


Năng lực của ta là sự ân cần và hữu dụng để cho bạn mình mang lại nhiều hiệu quả tốt, những hiệu quả tốt hơn cả những cái ta yêu cầu. Tình bạn hữu làm cho ta nên hoàn hảo, đầy đủ và tốt đẹp hơn. Cầu nguyện cũng giống như vậy. Áng Mây Của Kẻ Ngu Muội đã thấy rằng cầu nguyện hình như làm biến đổi con người, ngay cả hình dáng bên ngoài, để dù họ có thể không "thích", thì cầu nguyện sẽ làm xuất hiện nơi họ sự thay đổi và thích thú. Thánh Gioan Vianney giải thích làm sao mà cầu nguyện mở rộng tấm lòng nhỏ bé của ta, làm dãn nở nó và làm cho nó có khả năng yêu mến Thiên Chúa. Và những người biết về thánh Elizabeth nước Hung Gia Lợi cũng chứng nhận rằng họ đã thấy "khuôn mặt thánh nhân chói sáng cách lạ thường và ánh sáng từ đôi mắt trông giống như những tia sáng từ mặt trời" khi thánh nhân đang cầu nguyện. Trong chúng ta, ai là bạn của Thiên Chúa thì có thể hy vọng để có được những ơn như thế trong lời cầu nguyện của mình.



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Nguyện xin Chúa ban cho chúng con được vững lòng tin Chúa hơn.

Thần Học Niềm Vui 05 : Tông Đồ Của Nụ Cười

Thần Học Niềm Vui 05 : Tông Đồ Của Nụ Cười

Lm Giuse Phan Tấn Thành op

Trong lãnh vực tự nhiên, chúng ta đã thấy rằng một bí quyết sống vui là biết nhìn nhận ra điều tốt nơi tha nhân. Điều này lại càng đúng hơn nữa trong lãnh vực siêu nhiên. Người tín hữu không tìm cái vui cho riêng mình. Trong sách Tông đồ công vụ, chương 20,35 thánh Phaolô đã nhắc lại một câu nói của Chúa Giêsu : "Cho đi thì vui hơn là nhận lãnh". Người tín hữu dễ sống vui với tha nhân, nhờ có tình yêu Chúa thúc đẩy họ xích gần lại tha nhân vì nhận thấy điều thiện nơi họ, những hình ảnh của Thiên Chúa. Việc giúp vui cho người khác là một hành vi bác ái cao cả.

Ý thức như vậy nên không thiếu người đã khởi xướng phong trào làm tông đồ bằng nụ cười. Nụ cười là phương thế để chuyển đạt niềm vui an bình của một tâm hồn sống trong ơn nghĩa với Chúa. Tùy theo tính tình cũng như hoàn cảnh của từng người (có người dễ cười, có người khó cười, có người cười trong nước mắt), việc nở nụ cười nhiều lần đòi hỏi sự cố gắng không nhỏ của ý chí cũng tương tự như khi thực tập các hành vi nhân đức khác. Dù sao, không ai chối được công hiệu của nụ cười gây ra cho tha nhân: nó làm dịu bao nổi nhọc nhằn, khích lệ tiến tới.

Cha Frederick- William Faber (1814-1863) đã viết như sau: “Việc trao tặng nụ cười làm cho con tim được hạnh phúc, làm giàu cho người nhận được nó mà chẳng gây thiệt thòi gì cho người trao. Nụ cười chỉ kéo dài trong chốc lát, nhưng sẽ để lại ký ức lâu dài. Không ai giàu đến độ không còn cần nó, và không ai nghèo tới độ không thể tặng nó. Nụ cười tạo ra niềm vui trong gia đình, nâng đỡ khi lao tác, và là dấu hiệu hữu hình của tình bạn. Nụ cười làm vơi nhẹ nổi nhọc nhằn, đồi mới lòng can đảm trong những thử thách, là linh dược lúc buồn phiền. Nếu bạn gặp người nào không biết tặng mình cụ cười, thì bạn hãy quảng đại biếu họ một cái: không ai cần nụ cười cho bằng kẻ không biết trao tặng nó”.

Thánh Têrexa hài đồng Giêsu (1873-1897) thêm rằng: nụ cười là cành hoa của Chúa, tiếng vọng từ trời cao, nốt nhạc thoáng lướt của bản trường ca thiên quốc" (Poésie 5,4). Một nụ cười âu yếm đủ để giúp cho một tâm hồn ủ rũ được nở tươi (Manuscrits A,323). Ta cần phải luôn mỉm cười để mà an ủi Chúa Giêsu. (Poésie 15,15). Tôi muốn mỉm cười với Chúa mỗi khi Ngài muốn tránh mặt đi để thử thách đức tin của tôi; tôi mỉm cười để mong Chúa ló dạng (Poésie 19,5).

Ta có thể thấy tư tưởng của thánh Têrêxa vọng lại trong lời kinh sau đây của Benedetto Magi:

“Lạy Chúa, xin ban cho con ơn biết mỉm cười luôn mãi,
cho dẫu nụ cười bị che khuất bởi giòng lệ:
cho dù tim con bị tan nát,
xin làm cho biết mỉm cười.
Mỉm cười cho con và cho tha nhân,
khi vui lẫn khi khóc, khi may lẫn khi rủi.

Xin cho con biết mỉm cười, để vơi nhẹ gánh nặng của cuộc sống,
cho tha nhân cũng như cho chính mình;
để tỏa rạng niềm vui cho tha nhân,
để khơi dậy cho họ niềm hy vọng và tin tưởng.

Xin cho con biết mỉm cười khi sống và khi chết,
khi sáng sủa và khi tối tăm, cười với Chúa và với mọi người.
Và, lạy Chúa, cả Chúa nữa,
xin hãy mỉm cười với con nhé;
với nụ cười độc đáo của Chúa, tức là tình yêu đó mà!”

Để kết thúc, xin phép kể lại một chuyện dí dỏm mà đức Gioan Phaolo I thuật lại trong sách “Kính thưa quý ngài” (Illustrissimi), viết khi còn làm Hồng y. Hồi ấy, cho một anh phải ra trước tòa Chúa phán xét. Anh ta cúi gầm mặt xuống, vì không nhớ ra trên đời mình đã có lần nào cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống.

Chợt anh giật mình lên vì thấy Chúa tiến đến vỗ vai anh và nói : “Này chú, ta thấy chú có nhiều công trạng lắm: Xưa kia ta buồn, chú đã đến an ủi ta; ta rầu rĩ, chú đã kể chuyện khôi hài để ta giải trí; ta nản chí, chú đã giúp ta lên tinh thần bằng cái cười. Hãy vào, và hưởng niềm vui Chúa dành cho những tôi tớ trung thành..."


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Nguyện xin Chúa ban cho chúng con được vững lòng tin Chúa hơn.

Thần Học Niềm Vui 04 : Thực hành niềm vui

Thần Học Niềm Vui 04 : Thực hành niềm vui

Lm Giuse Phan Tấn Thành op

Kính thưa quý vị và các bạn,

Sau khi đã rảo qua các thứ học thuyết về nguồn gốc và bản chất của niềm vui bây giờ tới lúc bước sang phần thực hành. Chúng ta thử cố gắng tìm hiểu những bí quyết để sống vui. Hơn thế nữa, đã có những tác giả đề nghị làm việc tông đồ cho Chúa Kitô qua việc gieo rắc niềm vui.

I. LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC VUI ?

Dựa theo giáo huấn của các thánh nhân đã trình bày trên đây, chúng ta có thể phân biệt hai cấp độ của nguồn vui: những niềm vui tự nhiên, và những niềm vui siêu nhiên. Chúa không cấm ta hưởng những niềm vui tự nhiên, cùng với bao thụ tạo khác. Người Kitô hữu có thêm lợi điểm là họ khám phá một nguồn vui mới, nhờ ánh sáng đức tin.

A. Vui tự nhiên.

Có những người bẩm tính sinh ra đã lạc quan yêu đời rồi. Họ lại còn gặp may mắn, khiến cho đời họ càng thêm tươi hơn nữa. Tuy nhiên, ngoài cái tính vui bẩm sinh, tất cả mọi người chúng ta có thể và cần tập luyện để sống vui. Dưới khía cạnh này, chúng ta có thể thâu lượm bao nhiêu lời khuyên khôn ngoan từ kho tàng kinh nghiệm của các dân tộc. Xin mạn phép tóm lại vào một vài điểm căn bản sau đây.

1) Nếu sự vui là hậu quả của việc chiếm hữu điều tốt đẹp, thì nguyên tắc căn bản hơn cả để sống vui là biết nhận ra cái tốt đẹp chung quanh mình. Nói như vậy có nghĩa là bí quyết sống vui lệ thuộc vào bản thân của ta hơn là vào ngoại cảnh ! Hằng ngày ta chìm ngập giữa bao nhiêu điều tốt đẹp, nhưng vì không biết đánh giá chúng cho nên ta không biết vui. Chừng nào nằm liệt giường ta mới biết rằng sức khoẻ đáng già ngàn vàng. Khi bị nhốt trong ngục tối ta mới biết ánh sáng là quý.

Thế nhưng có biết bao người nhận thấy mình hạnh phúc vì được sức khỏe, đôi mắt để nhìn, miệng lưỡi để nói, tay chân để cự động ? Chúng ta còn nhớ bài hát ở Việt Nam: "Ai bảo chăn trâu là khổ ? không chăn trâu sướng lắm chứ?". Anh chăn trâu cảm thấy sướng vì khám phá ra bao nhiêu cái vui thú của công việc của mình : "Đầu tôi đội nón nhẹ như lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất ngểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ". Nếu chúng ta biết thưởng thức bao nhiêu cái tốt cái đẹp như em bé chăn trâu kia, thì đời ta sẽ thấy vui sướng biết bao !

2. Điểm thứ hai là một hệ luận đối lại với điểm thứ nhất vừa rồi. Đó là đừng than thân trách phận. Người nào thường hay than trách nhăn nhó thì chỉ thấy toàn là chuyện xui xẻo, trục trặc, hư hỏng chung quanh mình. Hơn thế nữa, xem ra người đó chỉ biết có cái "tôi", lấy mình làm trung tâm của vũ trụ. Người ích kỷ như vậy thì dễ có khuynh hướng phóng đại những hẩm hiu của mình. Thế thì làm sao mà vui nồi ?

3. Từ đó, ta có thể rút thêm một nhận xét thứ ba. Để có thể sống vui, ta phải biết khiêm nhường. Khiêm nhường để chấp nhận những giới hạn của mình, chấp nhận tính cách tương đối của những cái mình cho là đáng giá. Khiêm nhường để dám chế nhạo những cái lố lăng của mình. Khiêm nhường để nhận ra những điều hay điều tốt nơi người khác.

4. Như vậy, ta thấy rằng kể cả trong lãnh vực tự nhiên, muốn được vui, ta cần biết quảng đại. Quảng đại để không lấy mình làm trung tâm của vũ trụ. Quảng đại để khỏi đặt thỏa mãn nhất thời làm mục tiêu hành động.

Thực vậy, nhiều lần chúng ta cảm thấy rằng sự cố gắng tận tụy với bồn phận tuy đòi hỏi hy sinh nhưng sau đó đem lại niềm vui sâu đậm hơn là thú vui do sự lười biếng. Sự quảng đại cũng đồng nghĩa với tình yêu. Chúng ta biết rằng nhiều chuyện vui buồn trong đời bắt nguồn từ những mối tương giao với người khác (trong gia đình hay ngoài xã hội). Thế nhưng tính chất của các mối tương giao ấy tùy thuộc khá lớn vào thái độ của ta. Nếu ta yêu họ, thì ta sẽ nhận ra bao nhiêu điểm tốt đẹp nơi họ, và rồi ta thấy vui; còn nếu ta không ưa họ thì chỉ thấy toàn là khuyết điểm nơi họ, và chúng gây ra bao nhiêu bực bội ! Tục ngữ Việt nam đã để lại nhiều nhận xét rất tinh tế:

- Yêu nên tốt, ghét nên xấu.

- Yêu cho nhau ăn cháy, ghét chửi nhau cạy nồi.

- Lúc ghét bẻ ngay hóa vẹo, khi ưa vẽ méo nên tròn.

- Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng méo”.

5. Thiết tưởng một nhận xét cuối cùng về bí quyết sống vui là hãy giúp cho người khác vui. "Điều gì bạn thích người khác làm cho mình, bạn hãy làm cho họ". Một khi đã biết yêu tha nhân vì đã biết khám phá ra điều tốt nơi họ rồi, ta hãy quảng đại thêm chút nữa, để nói cho họ biết điều tốt mà ta nhận thấy nơi họ. Lời khen thành thực làm cho họ vui sướng và chính ta cũng sướng nữa. Kinh nghiệm cho ta thấy biết bao lần rằng việc gây hạnh phúc cho người khác sẽ đem lại cho ta niềm vui khôn tả. Thí dụ điển hình hơn cả là niềm vui của bà mẹ khi phải hy sinh giấc ngủ để canh thức cho đứa con của mình. Đối với bà, cái điều tốt cần đạt là giấc ngủ của đứa con, chứ không phải là giấc ngủ của riêng mình; vì thế bà vẫn vui được, tuy rằng mình phải hy sinh một cái lợi của bản thân.

Từ đó, ta cũng có thể suy diễn rằng điều thiện càng cam go bao nhiêu thì khi đạt được nó, ta lại càng thấy vui bấy nhiêu. Đây là lý do giải thích niềm vui sau khi chinh phục một cuộc mạo hiểm, niềm vui sau khi hoàn thành một công tác khó nhọc. Theo nghĩa này thì niềm vui không loại trừ gian khổ; thậm chí còn dám vui trong cực khổ.

Con người cần vui để mà sống. Ảnh hưởng của niềm vui đối với sức khoẻ tâm lý và thể lý là một điều không thể nào chối cãi được. Khi vui thì mọi sự trôi chảy, nhẹ nhàng. Ngược lại, khi buồn ta thấy tất cả mọi cái trở nên nặng nề tối sầm.

B. Dưới nhãn quan của đức tin.

Trong phần trình bày đạo lý về niềm vui theo Kinh thánh và các chứng nhân Kitô giáo, chúng ta thấy rằng đức tin mở rộng nhãn giới về niềm vui.

1. Tiên vàn đức tin cho ta biết đâu là điều thiện tuyệt đối, đâu là Hạnh phúc đích thực và bền vững: đó là Thiên Chúa. Hơn thế nữa, đức tin cũng cho ta biết rằng Thiên Chúa yêu ta. Do đó, bí quyết của niềm vui Kitô giáo là làm sao khám phá ra tình yêu ấy, làm sao cảm được rằng mình được Chúa yêu. Điều này đòi hỏi cả một sự giáo dục, chứ ít có ai thủ đắc từ bẩm sinh ! Nói khác đi, niềm vui siêu nhiên là một hồng ân Chúa ban cho ta. Phần ta chỉ biết khiêm tốn khẩn nài.

2. Thánh Phaolô đã coi sự vui mừng như là hoa trái mà Thánh Thần ban cho ta, cùng với sự an bình. Đối với đa số chúng ta, bước đầu tiên để cảm nghiệm tình yêu của Chúa là qua ơn tha thứ các lổi lầm: niềm vui của hòa giải. Tiếp đó, là niềm vui vì được kết hợp với Chúa khi cầu nguyện, khi lãnh bí tích. Và rồi, chúng ta cần xin Chúa gia tăng cho ta ơn được luôn sống trong tình nghĩa với Chúa, ơn được xác tín nơi tình yêu quan phòng của Cha. Đây không phải là điều dễ. Thực vậy, chúng ta thâm tín rằng khi biết tuân theo ý Chúa thì ta sẽ được hạnh phúc an vui. Thế nhưng đường lối của Chúa không lúc nào cũng hợp với những tính toán của ta. Chính vì vậy mà ta cần phải cầu nguyện để biết vâng theo ý Chúa. Đức Maria trở nên một mẫu gương cho chúng ta: "Này đây là nữ tì của Chúa. Xin hãy xảy đến nơi tôi theo lời Chúa".

Tuy nhiên, lịch sử đã hơn một lần ghi nhận những vị thánh đã dám giỡn với Chúa. Thánh Têrêxa Avila, sau khi đã bị thử thách nặng nề đã thốt lên: "Giờ đây con mới biết vì sao ít người muốn chơi với Chúa". Một vị khác đã thử cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa, xin tha cho con vì tội hổn láo. Con biết Chúa cứng lắm, không cách gì thay đồi được. Vì vậy, xin ban cho con ơn đành biết chấp nhận Chúa như vậy.", hoặc: "Lạy Chúa xin cho con biết bằng lòng với Chúa".

3. Sau cùng, niềm tin và lòng mến nơi người Kitô hữu luôn gắn liền với hy vọng trông cậy. Giữa bao nhiêu gian truân, các thánh nhân đã vui được bởi vì họ chắc rằng những đau khổ đời này không thấm vào đâu so với phần thưởng dành cho các người tôi trung của Chúa.




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Nguyện xin Chúa ban cho chúng con được vững lòng tin Chúa hơn.

Thần Học Niềm Vui 03 : Chứng Nhân Niềm Vui

Lm Giuse Phan Tấn Thành op

Kính thưa quý vị và các bạn,

Như chúng ta đã thấy, Kitô giáo không những loan báo Tin mừng nhưng còn thực sự thông ban sự vui mừng cho những ai tin vào Tin mừng. Nói cách khác, những ai đã sống trọn vẹn Tin mừng, đặc biệt các thánh nhân, đều là những chứng nhân của niềm vui Kitô giáo: họ hưởng niềm vui phát xuất từ các chân phúc của Tin mừng. Ở đây, chúng tôi chỉ xin dừng lại nơi vài tác giả nổi bật vì đã để lại một giáo huấn về sự vui mừng, xếp theo ba giai đoạn : thời các giáo phụ, thời Trung cổ và thời cận đại.

I. Thời các giáo phụ.

Một tác giả đã để lại ảnh hưởng sâu đậm hơn cả cho thần học chắc hẳn là thánh Augustinô (354-430). Trong các bài giảng cũng như trong các tác phẩm tự thuật, thánh nhân trình bày bản chất của sự vui mừng cũng như thôi thúc các tín hữu đạt được niềm vui. Niềm vui là trạng thái chủ quan của hạnh phúc. Ai ai cũng mong được hạnh phúc; khi đã đạt được hạnh phúc rồi thì ta thấy vui. Nói thế có nghĩa là con người tự bản chất mong được hưởng vui mừng. Vai trò của một vị mục tử là chỉ giáo cho các tín hữu biết đâu là con đường đưa tới hạnh phúc và vui mừng đích thực.

Thực vậy, thánh Augustinô cảnh giác rằng có thứ hạnh phúc giả tạo, đưa tới niềm vui giả tạo (Confessiones I 10,32: ML 32,793). Người Kitô hữu cần phải đi tìm hạnh phúc thực sự. Hạnh phúc thực sự là thứ dựa trên sự thực (tức là chân lý). Nhiều người không dám tới gần sự thực vì sợ sẽ bị tố giác những sai lầm giả dối của mình. Nhưng người Kitô hữu đừng sợ tới gần sự thực là đức Kitô. Cho dù khi đối diện với Ngài, chúng ta sẽ buồn rầu vì thấy những thiếu sót lầm lổi của mình, nhưng nếu ta khiêm nhường thống hối, thì Ngài sẽ sửa chữa sự yếu đuối của ta, soi sáng và an ủi ta.

Con đường dẫn tới sự vui mừng phải trải qua sự khiêm nhường thống hối; nhưng bù lại, ta sẽ được Chúa soi sáng cho ta thấy những thú vui hão huyền, và nhất là ban cho ta niềm vui đích thực là chính Chúa (Sermo 171,1: ML 38,993). Dù sao, ta nên biết rằng bao lâu còn ở trên đời này, niềm vui chưa được trọn vẹn. Niềm vui được ở bên Chúa thường bị pha lẫn nổi buồn vì những lần sa ngã phạm tội, cũng như pha lẫn với niềm khát mong được về hưởng hạnh phúc bất diệt (Sermo 21,1: ML 38,142). Ngoài hạnh phúc do việc kết hiệp với Chúa, thánh Augustinô cũng nói tới niềm vui của tình bác ái thương yêu huynh đệ.

II. Thời Trung cổ

Lịch sử của Giáo hội thời Trung cổ bên Âu châu ghi nhận sự xuất hiện của những phong trào hãm mình đền tội (nguồn gốc của các Dòng Ba) cũng như những phong trào du ca. Vì thế không lạ gì mà hai thánh lập dòng Đaminh và Phanxicô để lại bức chân dung vừa khắc khổ (đồng hóa với đức Kitô trên thập giá) vừa vui tươi, với những bài ca bộc phát từ tâm hồn đơn sơ khi chiêm ngắm vũ trụ. Các tín hữu ở Việt nam đều thuộc lòng bài "kinh cầu hòa bình" của thánh Phanxicô, nơi mà chúng ta học được bí quyết của niềm vui. Nếu muốn tìm một học thuyết có hệ thống về niềm vui, thì chúng ta có thể lục lọi các tác phẩm của thánh Tôma Aquinô.

Thánh Tôma bàn tới sự vui mừng dưới hai khía cạnh: khía cạnh tâm lý tự nhiên, và khía cạnh ơn sủng siêu nhiên. Dưới khía cạnh tâm lý, thánh Tôma phân tích niềm vui như là một trạng thái của tâm hồn. Còn dưới khía cạnh siêu nhiên, thánh Tôma bàn tới sự vui mừng trong tương quan với các nhân đức Kitô giáo; cách riêng sự vui mừng được phân tích như một hoa trái của Thánh Thần mà thánh Phaolô nói tới trong thư gửi Galata.

1) Sự vui mừng dưới khía cạnh tâm lý tự nhiên.

Thánh Tôma tìm hiểu bản chất của niềm vui khi đối chiếu nó với những tâm tình khác của con người. Hai tâm tình căn bản nhất là "yêu" (amor) và "ghét" (odium): ta yêu cái gì tốt lành, và ghét cái gì xấu. Khi mà ta chưa được cái tốt, thì ta ước ao thèm khát (desiderium). Còn khi đã được nó rồi thì ta vui thích (gaudium). Đối với sự xấu cũng vậy: một đàng ta lo sợ (timor) cái xấu khi nó chưa tới; và lỡ gặp nó rồi thì ta đâm ra buồn (tristitia). Như vậy, sự vui sướng là trạng thái an tĩnh của tâm hồn sau khi đã đạt được mục tiêu, tức là điều thiện (quies appetitus in fine: I-II, 34,2,2m).

Thánh Tôma lại còn phân biệt cái "vui" (gaudium) với cái "khoái" (delectatio). Cái khoái thuộc cấp độ giác quan, chung cho cả động vật và con người; còn cái vui thuộc cấp độ tinh thần, riêng của con người (I-II,31,3-4). Dĩ nhiên, trên thực tế, con người gồm cả phần giác quan lẫn phần tinh thần; do đó mà thường cái khoái đem lại cái vui và ngựơc lại. Cả hai đều giả thiết rằng các tiềm năng của ta hoạt động đắc lực: ta vui khi thấy mọi sự trôi chảy, thành công. Sự vui là dấu hiệu của sự thỏa mãn, hài lòng, ưng ý. Xét vì sự vui thuộc về lãnh vực tinh thần, cho nên nó chịu ảnh hưởng của lý trí, phân biệt thế nào là vui thực và thế nào là vui giả, cũng như vui tốt và vui xấu. Sự vui mừng xấu khi dựa trên những điều xấu (thí dụ như đắc chí khi thấy người khác gặp hoạn nạn, sự hả hê vì hạ nhục được đối phương). Sự vui mừng tốt khi dựa trên chân lý. Đó là chưa nói tới niềm vui phát sinh từ việc nghiên cứu, chiêm ngắm chân lý.

Tuy rằng niềm vui thuộc về lãnh vực tinh thần, nhưng thường hay bộc lộ ra thể xác, qua nụ cười, tiếng hát, sự nhảy múa. Niềm vui lại còn chiếu tỏa, lây sang người khác nữa.

2) Sự vui mừng trong đời sống Kitô hữu.

Người Kitô hữu đón nhận các niềm vui tự nhiên như món quà của Chúa. Cần phải loạt bỏ thành kiến sai lầm, theo đó muốn nên thánh thì phải nghiêm trang đạo mạo, không dám vui. Thánh Tôma khẳng định rằng: cần phải vui thì mới có thể tiến trên đường trọn lành được. Niềm vui làm cho hành vi thêm năng động, thúc đẩy sự nhiệt thành hăng say của ta (xc. In Ad Phil. cap.IV, lect.1; Sum. Theol, I-II, q.33,4). Ngoài niềm vui tìm thấy trong thế giới tự nhiên, người tín hữu khám phá thêm những động lực mới của niềm vui từ ánh sáng của đức tin. Chúa Giêsu đã mặc khải cho ta biết Thiên Chúa là cha nhân lành; Ngài hằng săn sóc ta. Đức tin mở cho ta thấy một mối tương quan mới với Thiên Chúa, đưa ta vào một thế giới mới của tình yêu.

Thực vậy, dựa trên giáo huấn của Tân ước, thánh Tôma nhấn mạnh rằng đức Kitô không những dạy ta hãy tin tưởng vào tình yêu của Chúa, nhưng chính tình yêu của Chúa đã được phú vào con tim ta. Tình yêu ấy chính là Chúa Thánh Thần. Trên bình diện siêu nhiên, niềm vui là một hoa trái của Thánh Thần, của đức ái (II-II,q.28,4). Thánh Tôma coi đặc trưng của luật Tân ước ở chổ nó được Thánh Thần ghi khắc vào con tim của ta, nhờ đó ta có khả năng thi hành luật Chúa một cách vui vẻ nhiệt thành (I-II,q.106-108). Đây là bí quyết niềm vui của người Kitô hữu: họ cảm thấy được Thánh thần dẫn vào trong tình yêu của Chúa; không những họ cảm nhận được tình yêu mà Chúa dành cho họ, nhưng họ được chia sẻ vào chính tình yêu của Thiên Chúa.

Thiên Chúa là Hạnh phúc tột đỉnh bởi vì Ngài là Sự Thiện hảo tuyệt đối. Vì vậy, nói tới việc mến Thiên Chúa hay việc được Thiên Chúa yêu thì cũng như nói rằng được chìm đắm trong hạnh phúc vô tận. Đành rằng niềm vui trọn vẹn chỉ có thể có trong tương lai mai hậu khi ta được hưởng nhan Chúa trên thiên quốc, nhưng từ đời này, ta có thể nói rằnh hạnh phúc ấy đã khởi đầu khi mà Thiên Chúa đến ngự trong lòng ta, dựa vào lời hứa của Chúa Giêsu: "Nếu ai mến Thầy, thì Cha sẽ yêu họ và chúng ta sẽ đến cư ngụ nơi họ" (Ga 14,23).

Thánh Tôma đã phân tích mẫu gương tuyệt vời nhất về niềm vui khi bàn đến đức Giêsu khi còn tại thế. Bất chấp bao nhiêu cay đắng khổ cực, đức Giêsu không bao giờ mất niềm vui, bởi vì Ngài luôn luôn kết hiệp với Chúa Cha: ngài với Cha là một (Ga 10,30). Ngài sống cho Cha, lấy ý Cha làm lương thực (Ga 6,58). Thản hoặc đức Giêsu cảm thấy buồn là vì Ngài nhận thấy sự dữ của cái đau khổ và chết xảy tới cho mình hay cho người khác, và nhất là sự dũ của tội lổi khiến cho bao tội nhân xa cách tình yêu của Chúa (III,q.15,6).

Đến đây ta gặp thấy sự mâu thuẫn của niềm vui Kitô hữu. Trên bình diện tự nhiên, thì vui buồn chống nhau như sáng với tối. Sự vui sẽ loại trừ sự buồn; còn khi cái buồn tới thì ta mất vui. Thế nhưng, người tín hữu có thể vừa vui lại vừa buồn. Vui vì đã được hưởng điều thiện, tức là tình yêu của Chúa; nhưng đồng thời họ buồn vì tình yêu ấy chưa trọn vẹn. Họ khám phá sự bất toàn ở nơi chính bản thân của mình: những ngăn trở bởi nết xấu và tội lổi khiến cho lòng mến Chúa không triển nở hết tiềm năng được! Tuy nhiên, nổi buồn này không làm hô tê liệt, nhưng thúc bách họ tìm cách hoạt động, sao cho tình yêu của Chúa càng ngày càng lan rộng trong tâm hồn mình cũng như trong thế giới. Niềm vui của người Kitô hữu mang theo chiều kích truyền giáo là vậy: họ không vui một mình, nhưng mong cho thật nhiều người vào chia sẻ niềm vui với Chúa.

Sau cùng, trong việc thực hành các nhân đức trong đời sống xã hội, thánh Tôma liệt kê nhân đức nhã nhặn (affabilitas: II-II,q.114), lịch thiệp trong tương giao với tha nhân. Nó đối nghịch với sự tâng bốc nịnh bợ cũng như sự cục cằn thô lổ. Thánh Tôma còn nói tới nhân đức vui tính bông đùa (iucunditas: II-II,q.168,a.2).

III. Thời cận đại.

Chúng ta nhận thấy có vài vị thánh không phải chỉ để lại vài nét về niềm vui, nhưng họ dùng sự vui tươi làm con đường nên thánh. Chúng ta có thể lấy một gương điển hình nơi thánh Thomas More, người Anh (1478-1575), đùa cợt cho tới khi chết. Ngài được kính như thánh tử đạo (lễ 22/6), vì bị kết án tử hình bởi đã phản đối việc ly khai của vua Henricô VIII khỏi Giáo hội công giáo. Khi bị dẫn lên đoạn đầu đài, ngài giỡn với lý hình: "Này ông ơi, làm ơi dắt tôi lên đi; còn việc đi xuống thì ông khỏi lo !" Sau khi đã dọn mình xong, ông ta ôm hôn lý hình và chúc: "Can đảm lên, đừng sợ ! Cổ tôi ngắn lắm; chặt sao cho khéo kẻo thiên hạ cười cho đấy !" Khi đã đặt cổ vào bục, ngài còn dặn dò lý hình lần chót: "Nhớ chặt đầu, chứ đừng chặt râu nhé, nó chẳng có tội tình gì đâu!".

Dù sao, lời nguyện sau đây của ngài đã trở thành cổ điển để xin Chúa ban cho tính khôi hài:

"Lạy Chúa, xin cho con được ăn ngon, và đồng thời xin cho con kiếm được cái gì nhét vào bao tử. Xin cho con được sức khoẻ thể xác, và cho con sự vui tính để mà gìn giữ sức khoẻ. Lạy Chúa, xin cho con tâm hồn lành thánh, biết thu lượm hết những gì tốt lành trong sạch, để lỡ khi gặp tội lổi thì không hoảng sợ nhưng mà biết cách sửa chữa. Xin cho con một tâm hồn không hề biết tới là chán nản, lẩm bẩm, rên rỉ, thở dài; xin cho con đừng quá bận tâm đến cái thằng chuyên phá rối phách, nó tên là thằng "tôi". Lạy Chúa, xin cho con được chút ít khôi hài; xin cho con ơn biết tiếp nhận chuyện bông đùa diễu cợt, để con có thể thấy được tí chút vui vẻ trên đời, và giúp cho người khác cũng được thông dự vào. Amen.

Trong những vị thánh đã lấy niềm vui để đo lường mức độ đạo đức, ta phải kể tới thánh Phanxicô de Sales (1567-1622). Ngài viết rằng: "Một ông thánh buồn là một ông thánh đáng buồn (đáng thương hại ?) (Un saint triste est un triste saint). Một vị thánh đương thời là Philipphê Nêri (1595-1622). Tính vui tươi độc đáo của ngài đã được ghi lại trong các lời nguyện phụng vụ và trong bài đọc giờ Kinh sách của ngày 26/5.

Vào thời đại gần chúng ta hơn, cần phải nhắc tới các tác phẩm của của thánh nữ Têrêxa hài đồng Giêsu. Bí quyết niềm vui là sống phó thác cho tình yêu Chúa.

Sau cùng, chúng ta không thể nào bỏ qua một văn kiện của Tòa thánh nói về sự vui mừng. Đó là tông huấn Gaudete in Domino (Hãy vui lên trong Chúa) của đức Phaolô VI, ban hành vào lễ Hiện xuống, ngày 9/5/1975. Xét vì thời điểm chính trị của nước Việt Nam lúc đó, có thể quả quyết rằng hầu hết đồng bào ở nhà không hề nghe nói tới. Thực sự, thì cả bên Âu châu cũng ít tác giả lưu ý tới văn kiện đó. Xem ra niềm vui không phải là một đề tài nghiêm túc của thần học !

Tuy nhiên, khi đọc kỹ tông huấn này, chúng ta tìm thấy rất nhiều lời khuyên thực hành để có thể đáp lại lời kêu gọi của thấnh Phaolô : "Hãy vui lên trong Chúa !". Văn kiện gồm có 6 chương:

1) Lòng khao khát niềm vui trong con tim của mỗi người.

2) Lời loan báo vui mừng trong Cựu ước.

3) Niềm vui theo Tân ước.

4) Niềm vui trong tâm hồn các thánh nhân.

5) Niềm vui cho toàn dân.

6) Niềm vui và hy vọng trong con tim các bạn trẻ.

7) Niềm vui của khác hành hương trong Năm thánh.


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Nguyện xin Chúa ban cho chúng con được vững lòng tin Chúa hơn.

Thần Học Niềm Vui 02 : Niềm Vui Theo Tân Ước

Niềm Vui Theo Tân Ước

Lm Giuse Phan Tấn Thành op

Sang đến Tân ước, chúng ta thấy niềm vui được đề cập tới dưới nhiều khía cạnh. Thánh Luca trình bày lúc Chúa Giêsu ra đời như thời kỳ thực hiện những lời các sứ ngôn tiên báo về niềm vui của thời đấng Thiên sai. Tư tưởng tương tự như vậy cũng đọc thấy ở thánh Gioan. Ngoài ra, chúng ta cũng gặp thấy những đoạn nói tới chính niềm vui của Chúa Giêsu. Thêm vào đó, Phúc âm cũng nói tới sự vui mừng trọn vẹn khi công cuộc cứu độ hoàn tất với mầu nhiệm Vượt qua của đức Kitô. Sau cùng, các tác phẩm của các thánh Tông đồ bàn tới niềm vui của các tín hữu, dù gặp phải những cơn thử thách bách hại.

A. Niềm vui của thời cứu độ.

Đề tài niềm vui đã xuất hiện ngay từ những chương đầu của Phúc âm theo thánh Luca. Thiên sứ Gabriel báo tin cho ông Dacaria biết là ngày chào đời của Gioan tiền hô sẽ mang lại vui mừng hoan hỉ cho ông và cho nhiều người (1,14.58). Nhất là khi đến gặp đức Maria, thiên sứ Gabriel đã mở đầu câu chuyện với những lời: "Vui lên đi, hỡi người đầy ân sủng" (1,28). Các nhà chú giải cho rằng thánh sử Luca trích lại những lời của các sứ ngôn Sophonia (3,14) và Dacaria (9,9) về niềm vui khi đấng Cứu tinh xuất hiện. Dù sao thì đức Maria đã nhận ra sứ điệp đó. Đức Maria không những đã hân hoan tạ ơn Chúa vì đã thương đoái nhìn đến thân phận thấp hèn của mình khi chọn làm mẹ đấng Cứu thế (1,46-48), mà còn vì Ngài đã nhớ lại lời hứa cùng tổ phụ Abraham (1,55). Đức Maria không giữ niềm vui cho riêng mình, nhưng còn thông chuyển cho bà chị họ Ysave (1,41). Việc Chúa Cứu thế sinh ra tại Bêlem được các thiên sứ loan báo cho các mục đồng như là một tin mừng trọng đại (2,10).

Việc đức Giêsu xuất hiện đã khai mạc thời đại vui mừng cũng được các thánh sử khác nói tới: đó là thời hoan hỉ, sánh được như thời ăn cưới (Ga 2,1-12; 3,29); vì thế mà các môn đệ của Ngài không có lý do để ăn chay khổ chế (Mc 2,19; Mt 9,15). Chính đức Giêsu cũng ý thức rằng mình được Thần khí Chúa sai đi để loan Tin mừng cho người nghèo, để công bố sự giải thoát cho những kẻ bị tù đày, áp bức (Lc 4,18-21).

Trọng tâm của sứ điệp vui mừng mà đức Giêsu rao giảng là lòng thương xót của Thiên Chúa. Trong chương 15, thánh Luca đã gom lại ba dụ ngôn nói về tình thương: Thiên Chúa vui mừng khi tội nhân thống hối, giống như người cha thấy đứa con lạc trở về, giống như người mục tử tìm lại được con chiên lạc, giống như bà lão tìm được đồng tiền rơi trong xó kẹt. Đức Kitô cũng dậy cho chúng ta biết đâu là các mối phúc thật (Lc 6,20-23; Mt 5,2-12). Sứ điệp của các phúc thật cảnh giác chúng ta về những thú vui giả tạo, dựa trên thế lực, tiền của (x. Lc 16,19-31: dụ ngôn trọc phú và Ladarô; Lc 12,16-21: dụ ngôn phú hộ tự mãn), đồng thời vạch cho ta một bí quyết để sống an vui, đó là tín thác nơi sự quan phòng của Cha lành, Đấng nuôi chim trên trời, hoa ngoài đồng (Lc 12,22-32; Mt 6,25-34).

B. Niềm vui của đức Kitô.

Phúc âm không chỉ nói tới việc đức Giêsu mang lại niềm vui cho nhân loại mà thôi; các thánh sử còn mô tả việc Ngài chia sẻ những niềm vui của cuộc đời. Ngài vui với các môn đệ sau khi họ đi giảng về (Lc 10,17-20). Ngài hân hoan chúc tụng Thiên Chúa vì đã mặc khải những bí nhiệm nước trời cho những tâm hồn bé nhỏ (Lc 10,21).

Dù không nói rõ, nhưng ta cũng có thể đoán được là Ngài cũng chia sẻ niềm vui với bà góa thành Naim khi thấy đứa con mình sống lại (7,15-16), của bao nhiêu người tật bệnh được chữa lành (13,17), của ông Dakêo được hân hạnh tiếp rước Ngài vào nhà và thay đổi cuộc đời (19,9), người thu thuế được tha thứ sau khi khiêm nhường thống hối (18,14). Ngài đùa giỡn với các nhi đồng quấn quýt bên mình, đang khi mà các môn đệ trách mắng chúng (18,15-17).

C. Niềm vui trong thời cánh chung.

Tuy nhiên, niềm vui mà đức Giêsu mang lại cho nhân loại chỉ mới có tính cách khai mào chứ chưa trọn vẹn. Niềm vui chỉ trọn vẹn khi không còn lo sợ phải mất đi, không còn pha lẫn với đau khổ buồn rầu. Niềm vui ấy được diễn tả dưới hình ảnh của một bữa đại tiệc (Lc 14,15; 22,16.30).

Thế nhưng, trước khi ngồi chung nhau trong bữa tiệc vĩnh cửu ấy, Chúa Giêsu phải chia tay các môn đệ, để đón nhận cuộc tử nạn trên thập tự. Trong bữa Tiệc ly, ngài nói như sau: "Thầy bảo thật các con: các con sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Các con sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của các con sẽ trở thành niềm vui. Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian. Các con cũng vậy, bây giờ các con lo buồn, nhưng thầy sẽ gặp lại các con, lòng các con sẽ vui mừng, và niềm vui của các con không ai lấy mất được" (Ga 16,20-22).

Cũng trong bài đàm đạo ấy, Chúa Giêsu không những nói tới niềm vui trọn vẹn vì sẽ gặp lại Chúa sống lại (20,20), nhưng còn niềm vui vì được thông dự vào tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con (15,11; xc 1Ga 1,4; 2Ga 12), niềm vui vì được Chúa Cha yêu thương và nhận lời cầu (16,23). Nói tóm lại, niềm vui của các môn đệ là được chia sẻ niềm vui của chính Chúa Giêsu (17,13). Các nhà chú giải đã lưu ý một thành ngữ độc đáo của thánh Gioan, đó là: "niềm vui trọn vẹn" (gaudium plenum, perfectum) phát sinh từ việc kết hiệp mật thiết giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha (14,20) và giữa Chúa Giêsu với các môn đệ (Ga 15,11; 1Ga 1,4; 2Ga 12). Niềm vui ấy đồng nghĩa với sự "bình an", một thứ bình an độc đáo vì là món quà của Chúa, và không ai có thể tước đi được (14,27-28; 16,12.24.33). Thánh Gioan cho ta thấy rằng có một thứ niềm vui của người tín hữu khác hẳn với niềm vui của thế gian: vào lúc đóng đinh Chúa Giêsu, thế gian khoái trá đắc chí đang khi mà các môn đệ buồn phiền. Thế nhưng sau cảnh buồn phiền ngắn ngủi, niềm vui của các môn đệ sẽ tăng gia gấp bội khi gặp lại Chúa phục sinh (16,20; 20,20).

D. Niềm vui trong gian truân

Thánh Luca đã kết thúc Phúc âm với việc Chúa Giêsu lên trời, và các môn đệ trở về Giêrusalem, lòng đầy hoan hỉ (Lc 24,52-53). Tiếp sang sách Tông đồ công vụ, thánh Luca cũng mô tả cộng đoàn các Kitô hữu tiên khởi tràn ngập niềm vui do tác động của Thánh Thần. Niềm vui là hậu quả của tình yêu đồng tâm nhất trí trong việc nghe lời giảng, trong việc cử hành phụng vụ và thông chia tài sản (Cv 2,46; 13,52). Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng không phải các Kitô hữu ấy vui vì suốt ngày ăn chơi múa nhảy. Họ sớm nếm phải cảnh đánh đập, tù đầy, bách hại. Đây là điểm độc đáo của cộng đoàn tín hữu tiên khởi: niềm vui giữa cảnh bách hại (Cv 5,41). Chúa Kitô đã chúc phúc cho những ai phải chịu bách hại vì danh Ngài (Mt 5,11-12). Giờ đây, họ có dịp nếm thử điều ấy. Các thánh tông đồ đã viết thư cho các giáo đoàn để nâng đỡ tinh thần của các tín hữu, giúp họ làm sao giữ được niềm vui giữa những cơn thử thách.

Sự vui mừng nói đây không còn phải là một cảm tính tự nhiên nữa, nhưng là một hồng ân của Thánh Thần. Theo thánh Phaolo, niềm vui là một hoa trái của Thánh Thần, tựa như những hoa trái khác như là: bác ái, bình an, độ lượng, hiền hậu (Gl 5,22). Nói thế có nghĩa là sự vui mừng là một hồng ân của Thiên Chúa ban cho ta, cùng với hy vọng và tình yêu (Rm 15,13). Thánh Phaolô cũng định nghĩa vương quyền của Chúa được biểu lộ qua sự vui mừng (Rm 14,17). Vì thế niềm vui ấy được gọi là vui "trong Chúa" (Pl 1,25; Rm 15,13), hoặc "trong Thánh Thần" (Rm 14,17; 1Tx 1,6).

Hơn nữa, Thiên Chúa muốn cho chúng ta hãy luôn luôn hoan hỉ (1Tx 5,16-18) trong lời kinh tán tạ. Các tín hữu được thúc giục không ngừng: "nào anh em, hãy vui lên, tôi nhắc lại: anh em hãy vui lên trong Chúa" (Pl 3,1; 4,4). Như vậy, sự vui mừng của người Kitô hữu không chỉ mang tính cách cá nhân mà còn có chiều kích cộng đoàn nữa, đặc biệt khi sống trọn tình bác ái huynh đệ (2Cr 13,11).

Thánh Phaolô không chỉ trình bày một lý thuyết về niềm vui. Chính ngài đã cảm nghiệm niềm vui dưới nhiều hình thức. Vui vì đức Kitô được loan báo (Pl 1,18); vui vì được thiện cảm của các tín hữu (Pl 4,10). Dù sao, thánh Phaolô cảm thấy được an ủi và vui mừng trong hoạt động truyền giáo, bất chấp những khó khăn trắc trở (2Cr 6,10; 7,4). Ngài thành thực thú nhận rằng mình gặp phải nhiều gian truân bên ngoài cũng như những trắc trở trong nội bộ các giáo đoàn, nhưng ngài đã vui mừng gánh chịu tất cả để bổ khuyết cho những chi còn thiếu trong các sự đau khổ của đức Kitô (Cl 1,24). Thậm chí, chính sự tử đạo sẽ mang lại sự vui mừng cho ngài bởi vì sẽ chóng gặp lại đức Kitô (Pl 2,6). Dù sao thì ta thấy rằng thánh Phaolô nói tới một niềm vui như là hồng ân của Chúa, chứ không phải là niềm vui giả tạo của thế gian. Cũng vậy, chúng ta nhận thấy thánh Phaolô phân biệt cái buồn "theo thế gian" đưa tới tuyệt vọng, và cái buồn "theo Chúa" (2Cr 7,7-10) dẫn đưa tới sự cải hoán.

Để an ủi các tín hữu đang xuống tinh thần vì những cảnh bắt bớ, tác giả thư gửi người Do thái đã khuyên nhủ họ hãy theo gương Chúa Kitô, đấng đã khước từ sung sướng vinh quang, chấp nhận thập giá; và nay Ngài được ngự bên hữu ngai Thiên Chúa (Dt 12,2). Cũng vậy, khi bị tước đoạt, bị bóc lột các tín hữu hãy vui vẻ chấp nhận, vì biết rằng mình còn có những của vừa quý gia vừa bền vững (Dt 10,34). Điều này được thánh Phêrô nói rõ hơn nữa: "Anh em thân mến, đựơc chia sẻ những đau khổ của đức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỉ" (1Pr 4,13; xc. Gc 1,2).

Tác phẩm cuối cùng của Tân ước cũng được viết ra để nâng đỡ các tín hữu dưới thời bách hại. Tác giả sách Khải huyền loan báo niềm vui bất tận của thời cánh chung ở Giêrusalem trên trời, nơi không còn tang chế khóc than nữa (Kh 21,1-4). Các người được cứu thoát sẽ tham dự tiệc cưới của Chiên trong vui mừng hoan hỉ (19,7).


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Nguyện xin Chúa ban cho chúng con được vững lòng tin Chúa hơn.

Thần Học Niềm Vui 01 : Niềm Vui Theo Cựu Ước

Thần Học Niềm Vui

Lm Giuse Phan Tấn Thành op

Lời Tòa Soạn : Chúng tôi xin được chia loạt bài "Thần học Niềm Vui" thành năm bài, đánh số từ 1 đến 5 : - Niềm vui Theo Cựu - Ước - Niềm vui Theo Tân ước - Chứng nhân niềm vui Kitô giáo. - Làm Thế Nào Để Được Vui – và Tông Đồ Của Nụ Cười.

Kính thưa quý vị và các bạn,

Trong Việt ngữ, có câu ví "vui như Tết"; còn bên Âu châu, thì có câu ví "thảm sầu như mùa chay". Trong tháng 2 này, chúng ta vừa ăn Tết xong lại chuẩn bị vào Mùa chay. Người nào có tí máu triết gia trong mình thì sẽ gật gù tự nhủ: "đời là thế đấy, vui buồn trà trộn lẫn nhau !"

Thế nhưng có lẽ nhiều tín hữu không nghĩ như vậy. Theo họ, những dịp vui tết chỉ là trò cười của thế gian, đó là chưa nói tới việc chúng dễ trở thành dịp phạm tội làm mất lòng Chúa. Người đạo đức phải sống nghiêm trang, khắc khổ nhiệm nhặt; hay nói khác đi, kể từ mùa chay trở đi, người Kitô hữu mới thực sự có cơ hội để sống đạo nghiêm túc!

Trong loạt bài này, chúng tôi hãy tìm hiểu xem: phải chăng sứ điệp của Kitô giáo chỉ gồm có sự sám hối đền tội, thập giá đau khổ ? phải chăng Kitô giáo chỉ thấy cuộc đời này như là bể khổ, như vũng nước mắt ? Có thể có sự vui mừng đích thực ở đời này không, hay là ta phải chờ mãi tới đời sau trên thiên đàng mới hưởng được niềm vui ? Nói cách khác, chúng ta thử tìm hiểu thần học về sự vui mừng.

Trước tiên, trong bài hôm nay, chúng ta hãy khảo sát xem Kinh thánh nói gì về sự vui mừng. Trong những bài tiếp, chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu đề tài này nơi các tác giả nổi tiếng trong lịch sử Kitô giáo; đặc biệt, chúng ta cố gắng tìm hiểu hai điểm : vui mừng là gì ? làm thế nào để được vui ? Sau cùng, để kết luận, chúng tôi sẽ nói tới phong trào làm tông đồ qua sự gieo rắc vui tươi: theo họ, không những là người kitô hữu có thể tìm thấy niềm vui ở đời này, nhưng người tín hữu có bổn phận phải giúp cho thiên hạ được sống vui.

Kitô giáo là đạo của sự vui tươi chứ không phải của ưu sầu ảm đạm ! Những ai năng suy gẫm kinh Mân côi có thể nhận ra rằng có tới 5 sự vui và 5 sự mừng, trong khi chỉ có 5 sự thương: như vậy là vui mừng thắng với tỉ số 2/1. (Gần đây Giáo hội lại thêm 5 sự sáng nữa, tỉ số đã là 3/1)

I. Trong Cựu ước

Trong tiếng Việt, chúng ta có nhiều từ ngữ để diễn tả niềm vui, thí dụ như: vui vẻ, vui tươi, vui mừng, vui sướng, sung sướng, hân hoan, hoan hỉ, mừng rỡ, hớn hở; khoan khoái, khoái trá, đắc chí, hả hê, thoải mái, mãn nguyện.... Các ngôn ngữ của Kinh thánh cũng dồi dào từ ngữ không kém. Nhưng thay vì dừng lại ở khía cạnh ngữ học, chúng ta hãy đi sâu vào nội dung thần học của niềm vui.

Chúng ta có thể xếp thần học về niềm vui trong Cựu ước theo bốn khía cạnh: 1) niềm vui tự nhiên của cuộc đời; 2) niềm vui của lễ hội cộng đoàn; 3) niềm vui trong Chúa; 4) niềm vui của thời cánh chung.

A. Niềm vui tự nhiên của cuộc đời.

Trong Kinh thánh, đặc biệt là trong các sách Khôn ngoan, ta gặp thấy những đoạn văn kêu mời hãy biết khám phá niềm vui từ những hồng ân mà Đấng Tạo hóa đã ban cho ta, chẳng hạn như niềm vui của gia đình êm ấm, của vợ hiền con ngoan (Huấn ca 26,2; Tv 113,9).

Thậm chí sách Giảng viên, một tác phẩm có tiếng là bi quan nhất bởi vì coi tất cả mọi sự trên đời đều là phù vân, cũng đã khuyên thế này: "Nào, bạn hãy vui vẻ ăn đi, hãy sung sướng thưởng thức chén rượu, vì Chúa đã chiếu nhận việc làm của bạn. Mọi thời, áo bạn phải trắng trẻo bảnh bao, và đừng quên xức thuốc thơm lên đầu. Bạn hãy hưởng cuộc đời với người vợ yêu dấu mà Chúa đã ban cho bạn" (Gv 9,7).

Tác giả nhìn nhận có những niềm vui chính đáng, tựa như niềm vui của sự nghỉ ngơi sau khi vất vả lao nhọc (2,24; 3,13).

Ta gặp thấy nhiều đoạn văn của thánh vịnh nói lên niềm vui vì được hưởng hoa trái của công lao mình gây dựng ra, niềm vui của mùa gặt hái (Is 9,2; Tv 126,5), niềm vui của bữa ăn ngon, của ly rượu làm vui thỏa tâm hồn (Tv 104,5; Hc 21,27).

Dù sao, thì niềm vui rất cần thiết cho cuộc sống: nó giúp ta bồi dưỡng sức khoẻ (Huấn ca 17,22; 30,21-23), xua đuổi những tư lự xao xuyến (Gv 3,22).

B. Niềm vui của lễ hội.

Ngoài niềm vui cá nhân và gia đình, còn có những niềm vui của cộng đoàn, của dân tộc: niềm vui chiến thắng (1Sam 18,6), niềm vui nhân dịp nhà vua đăng quang (1V 1,40), niềm vui khi các tù nhân trở về (Tv 126,5), niềm vui của những ngày lễ hội trên đền thánh Chúa.

Chúng ta thấy có nhiều thánh vịnh hành hương, ca ngợi thú vui được về thành đô dự lễ, thí dụ tv 122: "Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi, nào ta hãy lên đền thánh Chúa".

Những từ ngữ thường gặp trong các thánh vịnh để diễn tả niềm vui là: "hoan hỉ", "nhảy mừng", "vỗ tay xướng hát đàn ca", v.v...

C. Niềm vui trong Chúa.

Đối với dân Israel, không thể có niềm vui đích thực khi mà con người không tuân giữ luật Chúa. Những cuộc truy hoan chè chén say sưa chỉ để lại sầu muộn sau đó (Châm ngôn 14,13). Người gian ác không bao giờ vui được, cho dù bề ngoài xem ra khoái trá hả hê (Cn 2,14).

Nhưng đó mới chỉ là khía cạnh tiêu cực. Trong các thánh vịnh ta còn thấy đạo lý tích cực hơn nữa. Vịnh gia không những nhiều lần hân hoan ca ngợi Chúa khi chiêm ngắm bao kỳ công mà Ngài đã thực hiện trong vũ trụ

"Lạy Chúa, sự nghiệp Ngài khiến con mừng rỡ,
công việc tay Ngài làm, con phải reo lên" (Tv 92,5. Xc: Tv 8; 104),

Trong lịch sử Israel (Tv 78; 103; 105; 126) nhưng còn tìm thấy tìm vui ngay trong chính Chúa. Thánh vịnh 119 ca tụng niềm vui thích thú của luật Chúa, tựa như:

"Tuân theo thánh ý Ngài, con vui sướng
hơn là được tiền rừng bạc bể" (c.14),

"Con vui thú với thánh chỉ Ngài
chẳng quên lời Ngài phán" (c.16),

"Thánh ý Ngài làm con vui sướng thỏa thuê" (c.24),

"Thánh ý Ngài là gia nghiệp con mãi mãi,
vì đó là hoan lạc của lòng con" (c.111).

Thực vậy, người tín hữu tìm được niềm an vui trong Chúa :

"Hỡi những người công chính, hãy vui lên, hãy nhảy mừng.
Mọi tâm hồn ngay thẳng, nào cất tiếng hò reo" Tv 32,11;

"Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn,
Ngài sẽ cho được phỉ chí toại lòng" Tv 37,4; 104, 33-34;

"Hãy phụng sự Chúa với niềm hoan hỷ" Tv 100,2).

Sự an vui trong Chúa được ví như

"Trẻ thơ nép mình lòng mẹ
trong con, hồn lặng lẽ an vui" (Tv 131,2),

"Chúa ban xuống lòng con nhiều hoan lạc,
hơn khi thiên hạ được mùa / lúa rượu đầy dư.
Thư thái bình an, vừa nằm con đã ngủ,
vì chỉ có mình Ngài, lạy Chúa,
ban cho con được sống yên hàn"
(Tv 4,8-10; 16,9).

Niềm vui vừa nói không phải chỉ dành cho kẻ lành thánh, nhưng cả cho người tội lỗi, miễn là họ biết hối cải: họ sẽ lãnh được niềm vui của ơn tha thứ (Tv 51,10-11.14), niềm vui của lòng khoan nhân :

"Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi,
chớ khá quên mọi ân huệ của Ngài ...
Chúa là Đấng nhân hậu,
Ngài chậm giận và giàu tình thương,
chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi"
(Tv 103,2.8-9).

Chắc hẳn hầu hết các tín hữu ở Việt nam đã quen thuộc với Tv 126: "Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo. Lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng".

D. Niềm vui của thời cánh chung

Cựu ước còn nói tới một chiều kích nữa của niềm vui, hướng về tương lai vào thời mà Chúa sẽ gửi vị thiên sai để khai mào kỷ nguyên của hòa bình an lạc, thịnh vựơng phú quý.

Ngôn sứ Isaia đã nhiều lần nói tới niềm vui mới, niềm vui bất diệt vào thời cánh chung, khi Chúa sẽ lau khô hết mọi nước mắt (25,8), khi Chúa sẽ an ủi dân mình như bà mẹ ủi an con thơ (Is 40,1; 49,13; 66,10-14). Ngày Chúa cứu chuộc sẽ là ngày của hoan hỉ hò reo (Sophonia 3,14-15; Gioel 2,21.23; x.Tv 96,11-13; 97).


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Nguyện xin Chúa ban cho chúng con được vững lòng tin Chúa hơn.
Related Posts with Thumbnails

Tìm kiếm trên website MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Loading