Hiển thị các bài đăng có nhãn CÁC THÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÁC THÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Tìm thấy bức họa cổ nhất về tông đồ của Chúa

Tìm thấy bức họa cổ nhất về tông đồ của Chúa

Tông đồ Andrew của chúa Jesus.
Tông đồ Andrew của Chúa Jesus. Ảnh: chrysostom.org.














Những bức tranh lâu đời nhất về tông đồ Andrew và John của Chúa Jesus vừa được phát hiện trong hầm mộ dưới thành Rome.
Những bức vẽ từ thế kỷ thứ 4 được phát hiện đúng nơi hình cổ nhất về thánh Paul được tìm thấy hồi năm ngoái, CNN dẫn nguồn Ủy ban khảo cổ của giáo hội cho biết hôm qua.
Chúng được vẽ quanh hình ảnh chúa Jesus trên trần hầm mộ của một phụ nữ quý tộc ở Rome. Các chuyên gia Vatican cho hay một bức vẽ thánh Peter cũng được tìm thấy trong nhóm này nhưng đó không phải là tranh cổ nhất về ngài cho đến nay.
Hình ảnh về các tông đồ của Chúa trên nền màu đỏ đậm lộ ra sau gần hai năm làm việc của các nhà khảo cổ. Họ sử dụng công nghệ laser mới để phá lớp đá vôi trắng phủ lên các bức vẽ này nhiều thế kỷ nay.
Hầm mộ nói trên là một trong số 40 hầm mộ dưới lòng thành Rome. Nó nằm dưới nền một tòa nhà 8 tầng ở khu văn phòng. Vatican đã chi khoảng 74.000 USD cho dự án khảo cổ này.
Ngọc Sơn
++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn

"Nhờ Mẹ Maria và các Thánh chuyển lời xin Thiên Chúa ban cho người dân Việt Nam được sống tự do và công bằng"

++++++++++++++++

Thánh Gioan Thánh Giá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Thánh Gioan Thánh Giá
JohnCross.jpg
Tiến sĩ Hội thánh
Sinh 24 tháng 6 1542, Fontiveros, Tây Ban Nha
Mất 14 tháng 12 năm 1591 (49 tuổi), Ubeda, Andalusia, Tây Ban Nha
Tôn kính Giáo hội Công giáo Rôma; Anh giáo; Giáo hội Luther
Chân phước 25 tháng 1 1675 bởi Giáo hoàng Clement X
Phong thánh 27 tháng 12 1726 bởi Giáo hoàng Benedict XIII
Nhà thờ Mộ Thánh Gioan Thánh Giá,
Segovia, Tây Ban Nha
Ngày lễ 14 tháng 12
24 tháng 11 (Lịch Rôma chung, 1738-1969)
Thánh bổn mệnh cuộc sống chiêm niệm; người chiêm niệm; thần học thần bí; nhà thần bí; các thi sĩ Tây Ban Nha

Thánh Gioan Thánh Giá (San Juan de la Cruz) (14 tháng 6 năm 1542]] - 14 tháng 12 năm 1591) là một nhân vật lớn trong cuộc Cải cách Công giáo, một nhà thần bí Tây Ban Nha và một thầy dòng Camêlô sinh tại Fontiveros, một ngôi làng nhỏ gần Ávila.

Ông được biết đến trong việc hợp tác với thánh Têrêsa thành Avila trong cuộc cải cách của dòng Camêlô và các bài viết của ông - các bài thơ cũng như những nghiên cứu của ông về sự tăng tiến của linh hồn (trong quan niệm Kitô giáo về việc tách ra khỏi những tạo vật và gắn bó với Thiên Chúa) được xem như là đỉnh cao của văn học thần bí Tây Ban Nha nói riêng và một trong những chóp đỉnh của văn học Tây Ban Nha nói chung. Ông là một trong ba mươi ba Tiến sĩ Hội Thánh.


Cuộc đời

Thời thơ ấu và Học vấn

Ông được sinh ra trong một gia đình Do Thái theo đạo Công giáo với lý do tránh né bắt bớ trong một cộng đồng nhỏ gần Ávila. [1] Cha ông chết khi ông còn trẻ, vì vậy Gioan, hai anh trai, cùng người mẹ quá phải vật lộn với cảnh nghèo đói, di chuyển xung quanh và sinh sống tại các làng Castilian khác nhau. Cuối cùng là tại Medina del Campo vào năm 1551. Tại đây, ông làm việc tại một bệnh viện và học môn khoa học nhân văn tại một truờng thuộc Dòng Tên từ 1559 đến 1563. Dòng Tên đang là một tổ chức mới ở thời đó, chỉ mới đuợc thành lập một vài năm trước bởi Thánh Ignatius Loyola. 24 tháng 2 năm 1563, ông nhập Dòng Camêlô, lấy tên thầy Juan de Santo Matía. Năm tiếp theo đó (1564), ông khấn dòng sau thời gian tập sự và chuyển tới Salamanca nơi ông học triết học tại Đại Học và tại Colegio de San Andrés. Thời gian tại đây sẽ ảnh hưởng đến tât cả các bài viết sau này của Gioan vì có thầy Luis de León dạy khoa nghiên cứu Thánh Kinh (giải thích Kinh Thánh [Exegesis], tiếng Hê-brơ, tiếng Aram) tại Đại Học. León là một trong những chuyên gia hàng đầu trong khoa Nghiên cứu Thánh Kinh thời đó và đã viết một bảng dịch sách Diễm ca tiếng Tây Ban Nha quan trọng cũng như gây nhiều tranh cãi. Thời đó, bản dịch Kinh Thánh vào tiếng địa phương không được cho phép tại Tây Ban Nha.

Chức Linh mục và Hợp tác với Thánh nữ Têrêsa Giêsu

Thánh Gioan Thánh Giá được phong chức linh mục vào năm 1567 và cho biết ý muốn gia nhập dòng Carthusian khắc khe - lôi cuốn bởi sự khuyến khích về tính chiêm niệm thinh lặng và ẩn kính của dòng. Trước đó, ông đã đến Medina del Campo, nơi ông gặp con người thu hút của Thánh Têrêsa Giêsu. Bà lập tức nói với ông về kế hoạch cải cách của bà cho dòng Camêlô và xin ông khoan nhập dòng Carthusian. Năm kế đó, vào ngày 28 tháng 11, ông bắt đầu cuộc cải cách này tại Dulero cùng với cha Antonio de Jesús de Heredia. Và thị trấn Dulero bé nhỏ và nghèo nàn này trở nên một trung tâm tôn giáo.

Gioan, vẫn còn trong những năm hai mươi của đời mình, tiếp tục công việc giúp đỡ Thánh Têrêsa cho đến nàm 1577, lập nên các tu viện xung quanh Tây Ban Nha và góp tay cách năng động trong ban điều hành của các nhà.nha cac vien cacado cervantes era tremendo putazo Các cơ sở cũng như quá trình cải cách này bị kháng cự bởi một lượng lớn các tu sĩ dòng Camêlô, một số nghĩ rằng tiêu bản nhà dòng của Thánh Têrêsa quá khắc khe. Một số những người chống đối này còn ngăn cản bà vào các tu viện của họ.

Những người đi theo Thánh Gioan Thánh Giá và Thánh Têrêsa Giêsu phân biệt họ khỏi những người không theo các cộng đoàn cải cách bằng cách gọi mình là các tu sĩ Camêlô "không mang giày" và những người kia là "mang giày".

Bắt giam, Các bài viết, Tra tấn, Cái chết và Công nhận

Vào các đêm 3 và 4 tháng 12 năm 1577, sau việc ông từ chối di chuyển đi chỗ khác theo các lệnh của bề trên, đúng hơn là vì các cố gắng của ông trong việc cải cách đời sống trong dòng Camêlô, ông bị bắt theo lệnh bề trên và giam tại Todelo, nơi ông được đặt dưới một chế độ tàn bạo bao gồm bị đánh bằng roi trước mặt toàn thể tu viện ít nhất hàng tuần, và bị biệt giam trong một căn buồng nhỏ xíu ngột ngạt vừa đủ cho thân xác của ông. Ông đã xoay sở để tẩu thoát chín tháng sau đó vào ngày 15 tháng 8 năm 1578. Cũng trong lúc đó, ông đã sáng tác một phần lớn của bài thơ nổ tiếng nhất của mình: Bản Trường ca Thiêng liêng trong lúc bị bắt giam; sự đau đớn nặng nề và sự kiên trì về vấn đề thiêng liêng của ông đã được thể hiện trong tất cả các bài viết sau này của Gioan.

Sau khi đã trở lại với cuộc sống bình thường, ông tiếp tục công việc cải cách và thành lập các tu viện cho hội dòng Camêlô Không Đi Giày mới thành lập mà ông đã giúp ổn định cùng với người bạn là Thánh nữ Têrêsa thành Ávila (Têrêsa Giêsu).

Ông qua đời vào ngày 14 tháng 12 năm 1591, các bài viêt của ông được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1681, và được phong hiển thánh bởi Giáo hoàng Bênêđíctô XIII năm 1726. Vào năm 1926, ông được phong Tiến sĩ Hội thánh bởi Giáo hoàng Piô XI.

Giáo hội Anh giáo tưởng nhớ đến ông với tư cách "Thầy dạy Đức tin".




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Thánh Gioan Kim Khẩu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Gioan Kim Khẩu
Johnchrysostom.jpg
Thánh John Chrysostom, tranh khảm Byzantine 1000 năm, tại Hagia Sophia
Sinh 349
Antioch
Mất 14 tháng 9 ca. 407[1]
Comana in Pontus [1]
Tôn giáo Chính Thống giáo Đông phương


John Chrysostom hay Gioan Kim Khẩu (349 – khoảng 407,[1] Tiếng Hi Lạp: Ιωάννης ο Χρυσόστομος, Ioannes Chrysostomos) là Tổng Giám mục thành Constantinople. Ông nổi tiếng do tài hùng biện trong thuyết giáo và diễn thuyết, do tính cương trực khi quở trách những hành vi lạm quyền trong giới lãnh đạo chính trị và tôn giáo, do quyển Giáo nghi của Thánh John Chrysostom, và do quan điểm của ông về nếp sống khổ hạnh. Sau khi qua đời, ông được mệnh danh Chrysostomos, trong tiếng Hi Lạp nghĩa là “Miệng vàng” hoặc "Kim khẩu" nhằm xưng tụng khả năng hùng biện của ông.[2][1]

Ông được Chính Thống giáo và các giáo hội Công giáo Đông phương phong thánh (ngày 13 tháng 11 hằng năm là ngày lễ tôn vinh ông), và được xưng tụng là một trong Ba Học giả Hội thánh (hai vị kia là Basil Cả, và Gregory Nhà Thần học). Ông cũng được Giáo hội Công giáo La Mã công nhận là một vị thánh cũng như là Học giả Hội thánh.


Tiểu sử

Thiếu thời và Học vấn

John sinh năm 349 tại Antioch,[3] cha ông là một sĩ quan cao cấp,[4] nhưng hiện vẫn chưa có sự đồng thuận về việc mẹ ông có phải là tín hữu Cơ Đốc hay không.[5] Cha của John chết sớm, cậu bé được chăm sóc bởi người mẹ. Ông chịu lễ rửa tội (báp têm) trong năm 368 hoặc 373 và được chọn làm người đọc Kinh Thánh trong nhà thờ.[6] Nhờ những mối quan hệ của người mẹ, John theo học một thầy giáo ngoại đạo Libanus. Trong thời gian này, John nắm bắt những kỹ năng diễn thuyết, và bắt đầu ham thích ngôn ngữ và văn chương Hi Lạp.[7] Tuy nhiên, khi trưởng thành, John ngày càng quan tâm nhiều hơn về Cơ Đốc giáo, đến theo học môn thần học với Diodore thành Tarsus (về sau là một trong những thủ lĩnh trường phái Antioch). John sống một đời khổ hạnh, khoảng năm 375, ông trở nên nhà ẩn tu, suốt hai năm cứ đứng, hiếm khi ngủ, học thuộc lòng Kinh Thánh. Hậu quả là ông mắc bệnh dạ dày và thận mãn tính, suy nhược đến nỗi phải trở về Antioch.[8]

Antioch

Năm 381, John được Thánh Meletius thành Antioch phong chức phó tế (deacon) , đến năm 386 ông được Giám mục Flavian I thành Antioch phong chức trưởng lão. Trải qua mười hai năm, ông nổi tiếng với tài hùng biện, nhất là biệt tài luận giải sâu sắc các đoạn Kinh Thánh, và những giáo huấn về các vấn đề đạo đức. Tác phẩm giá trị nhất của ông là Tuyển tập Bài giảng, luận giải nhiều sách khác nhau trong Kinh Thánh. John thường nhấn mạnh đến công tác từ thiện, cũng như quan tâm đặc biệt đến các nhu cầu thể xác và tinh thần của người nghèo. Ông lớn tiếng chỉ trích sự lạm dụng, tính lãng phí, và lòng ham mê tích lũy của cải:

“

Anh em có muốn tôn vinh thân thể Chúa Cơ Đốc? Chớ xa lánh Chúa khi ngài đang trần truồng. Chớ tôn kính Chúa khi ngài mặc trang phục lụa là trong đền thờ, mà xa lánh Chúa khi ngài đang rách rưới, đói lạnh bên ngoài. Đấng đã nói: ”Nầy là thân thể ta” cũng chính là đấng đã bảo ”Vì ta đã đói, các ngươi không cho ta ăn”, và “hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy”[9]... Có ích gì khi đến trước bàn Tiệc Thánh (Bí tích Thánh thể) đầy những chén thánh mạ vàng trong khi anh em chúng ta đang chết vì đói ngoài kia? Hãy đi ra mà chăm sóc những người đói khát, rồi vào mà dự lễ trước bàn thờ.[10]

”

Sự thấu hiểu trực tiếp ngôn từ Kinh Thánh của John (đối nghịch với khuynh hướng luận giải Kinh Thánh theo nghĩa bóng thời ấy) cho thấy những chủ đề ông chọn đều tập chú vào việc giải thích và ứng dụng các giáo huấn vào cuộc sống hằng ngày. Cung cách thuyết giáo của Chrysostom giúp ông có được sự ủng hộ của đa số quần chúng. Ông thành lập một chuỗi các bệnh viện tại Constantinople để chăm sóc người nghèo.[11]

Một sự kiện xảy ra ở Antioch cho thấy ảnh hưởng to lớn của Chrysostom thể hiện qua sức thuyết phục của các bài thuyết giáo. Người dân thành phố, trong lúc bạo loạn, đã chặt đứt tay chân các bức tượng của Hoàng đế Theodosius I và các thành viên hoàng tộc. Suốt trong những tuần lễ của kỳ Lễ Lá năm 397, Chrysostom thuyết giáo liên tiếp 28 bài giảng, vạch ra sự sai lầm của đám đông. Những bài giảng này có ảnh hưởng lậu dài trên người dân thành phố: nhiều người tìm đến tiếp nhận đức tin Cơ Đốc. Nhờ đó, Hoàng đế nguôi cơn giận, và những biện pháp trừng phạt cũng được giảm nhẹ.[12]

Tổng Giám mục thành Constantinope

Tượng khắc John Chrysostom tại Đại Giáo đường Thánh Patrick, Thành phố New York.

Trái với ý nguyện, năm 398 John được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Constantinople. Ông phàn nàn về việc nghi thức triều đình cho phép tổng giám mục hưởng những đặc ân lớn hơn các quan đại thần. Trong thời gian làm tổng giám mục, thái độ kiên quyết khi từ chối tổ chức các buổi lễ hội xa xỉ đã khiến ông rất được lòng dân, nhưng lại trở thành cái gai trong mắt tầng lớp giàu có và giới tăng lữ, trong khi những biện pháp cải cách của ông làm gia tăng sự bất bình trong giới tăng lữ.[13]

Thời gian Chrysostom sống ở Constaninople xảy ra nhiều biến động hơn lúc ông ở Antioch. Theophilus, Thượng phụ thành Alexandria, do muốn cầm giữ Constantinople dưới ảnh hưởng của mình nên chống đối việc bổ nhiệm Chrysostom, và cáo buộc John ủng hộ học thuyết Origen. Theophilus kỷ luật bốn tu sĩ Ai Cập vì họ theo Origen. Trong khi đó Chrysostom có thêm một kẻ thù đầy quyền lực là vợ của Hoàng đế Arcadius, Aelia Eudoxia, Eudoxia cho rằng những quở trách của Chrysostom về sự xa hoa trong trang phục là nhắm vào bà.[14]

Tùy vào quan điểm cá nhân mà có người xem John là thiếu tế nhị, trong khi những người khác ca ngợi sự can đảm của ông khi quở trách những thói xấu trong giới thượng lưu. Hầu như ngay lập tức, một liên minh được hình thành bởi Eudoxia, Theophilus và những người khác nhằm chống lại John. Họ triệu tập một hội nghị trong năm 403 để buộc tội John có liên hệ với tà giáo Origen. Kết quả là ông bị phế truất và lưu đầy. Nhưng Arcadius triệu hồi ông về vì sự phẫn uất của dân chúng.[15] Ngay trong đêm John bị bắt giữ, xảy ra một trận động đất khiến Eudoxia xem đó là một dấu hiệu bày tỏ cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.[16] Dù vậy, tình trạng hòa bình giữa những người này kéo dài chẳng được bao lâu. Khi một bức tượng Eudoxia bằng bạc được dựng lên gần ngôi đại giáo đường của ông, John đã lên tiếng đả kích các buổi lễ cung hiến bức tượng. Một lần nữa, John bị lưu đày, lần này đến Causasus thuộc Armenia.[17]

Giáo hoàng Innocent I phản kháng lệnh phát vãng nhưng không có kết quả.[18] Trong khi đó, những bức thư của John gây xôn xao tại Constantinople, và ông bị lưu đày xa hơn, đến Pitiunt (vùng Abkhazia thuộc Georgia), ở đây phần mộ của ông trở thành nơi hành hương. John chết trên đường lưu đày. Lời nói sau cùng của ông là, "δόξα τῷ θεῷ πάντων ἕνεκεν" (Nguyện Thiên Chúa được vinh hiển trong mọi sự!).[16]

Tác phẩm

Bài giảng

Nổi tiếng là “nhà thuyết giáo vĩ đại nhất trong thời kỳ hội thánh đầu tiên”, những bài giảng của John có ảnh hưởng to lớn và lâu dài.[19] Số lượng các bài giảng của ông rất lớn, bao gồm hàng trăm bài giảng theo cách giải nghĩa Kinh Thánh trong Tân Ước (đặc biệt là những thư tín của Sứ đồ Phao-lô) và Cựu Ước (nhất là Sáng thế ký). Trong số các bài luận giải Kinh Thánh của John có 67 bài giảng về Sáng thế ký, 59 bài về Thi thiên (Thánh vịnh), 90 bài về Phúc âm Matthew, 88 bài về Phúc âm Giăng, và 55 bài về sách Công vụ các Sứ đồ.[20]

Được ghi lại, sao chép và lưu hành, những bài giảng này thể hiện phong cách của John, thẳng thắn và gần gũi; chúng cũng giúp định hình những chuẩn mực cho thuật hùng biện trong thời kỳ này.[21] Nhìn chung, nền thần học được quảng bá qua nghệ thuật thuyết giáo theo cung cách của John Chrysostom thể hiện những đặc điểm của trường phái Antioch (thiên về khuynh hướng luận giải các sự kiện Kinh Thánh theo nghĩa đen), mặc dù ông vẫn sử dụng thuật luận giải theo nghĩa bóng thường được cho là quen thuộc với trường phái Alexandria.[22]

Bối cảnh tôn giáo và xã hội đương thời hình thành trong ảnh hưởng ngoại giáo lan tỏa cùng khắp trong nếp sống thường nhật của người dân thành phố. Một trong những chủ đề thường xuyên xuất hiện trong các bài thuyết giáo của John nhắm vào ảnh hưởng ngoại giáo trên các phương tiện giải trí: nhà hát, đua ngựa, tiệc tùng hoan lạc vào các dịp lễ hội.[23] Với mối quan tâm đặc biệt dành cho các tín hữu Cơ Đốc, có lần ông nhắc nhở họ,

“

Nếu quý vị hỏi (các tín hữu Cơ Đốc) xem Amos hoặc Obadiah[24] là ai, hoặc có bao nhiêu vị sứ đồ và các nhà tiên tri, họ sẽ đứng yên câm lặng; nhưng nếu quý vị hỏi họ về các con ngựa đua hoặc các nài ngựa, họ sẽ trả lời cách hào hứng và trang nghiêm còn hơn các nhà thông thái hoặc các nhà hùng biện.”[25]

”

Một trong những điểm đặc trưng được tìm thấy trong các bài thuyết giáo của John Chrysostom là việc nhấn mạnh đến bổn phận chăm sóc những người nghèo khó.[26] Được soi dẫn từ những giáo huấn chép trong Phúc âm Matthew, ông kêu gọi người giàu từ bỏ những tham vọng vật chất mà quan tâm nhiều hơn đến người nghèo. John thường sử dụng các kỹ năng hùng biện để phô bày sự hợm hĩnh của những người giàu vô cảm:

“

Các ngươi tôn trọng chất cặn bã của cơ thể mình bằng cách đựng chúng trong bô nạm bạc, trong khi những người chung quanh, là những tạo vật được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, đang chết dần mòn trong đói lạnh?[27]

”

Giáo nghi

Một trong những di sản có giá trị lâu dài của John Chrysostom là các tác phẩm của ông về giáo nghi. Ông góp phần làm hài hòa đời sống nghi thức của hội thánh bằng cách nhuận chánh lời cầu nguyện và các đoạn quan trọng trong Divine Liturgy (Giáo nghi Thần thượng), và trong phần nghi lễ dành cho Lễ Tiệc Thánh (Bí tích Thánh thể). Cho đến nay, Giáo hội Đông phương và các giáo hội Công giáo Đông phương vẫn cử hành theo Divine Liturgy của John Chrysostom.

Di sản

The Tu viện Chrysostom tại Moscow (1882).

Do giới tăng lữ tại Constantinople là nguyên cớ gây ra những chỉ trích nhắm vào cuộc sống giàu sang và lòng ham mê trần tục của họ, John bày tỏ quyết tâm cải tổ hệ thống tăng lữ tại đây. Tuy nhiên, những nỗ lực của ông vấp phải sự chống trả mãnh liệt, và chỉ thu được kết quả rất hạn chế. Chrysostom là nhà thuyết giáo tài năng. Trong cương vị một nhà thần học, ông vẫn được xem là tiếp tục duy trì ảnh hưởng trên Cơ Đốc giáo phương Đông, và là học giả nhiều ảnh hưởng nhất của Giáo hội Hy Lạp, mặc dù ít có ảnh hưởng trên Cơ Đốc giáo phương Tây. Hơn bất cứ giáo phụ Hi Lạp nào khác, các tác phẩm của John vẫn còn được yêu thích cho đến ngày nay.[1] Ông bác bỏ cách luận giải Kinh Thánh theo nghĩa bóng, nhưng luận giải cách khúc triết, và tìm cách ứng dụng các bài học rút ra từ Kinh Thánh vào cuộc sống hằng ngày.

Sự kiện John Chrysostom bị lưu đày cho thấy vào lúc ấy quyền lực thế tục đang khống chế giáo hội đông phương, cũng như hé lộ những tranh chấp giữa Constantinople và Alexandria nhằm giành quyền kiểm soát giáo hội. Trong khi đó, từ thế kỷ thứ tư, ưu thế vượt trội của Rôma là không còn gì để tranh cãi. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng mặc dù ảnh hưởng ngày càng phát triển của Giáo hoàng, sự kiện lời phản kháng của Innocent không được chấp thuận cho thấy sức mạnh thế tục của Giám mục thành Rôma không có mấy tác dụng tại phương Đông vào thời kỳ ấy.




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Truyện Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu

Truyện Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu

http://www.thanhcacongdong.com/thuanmad1/hinh%20anh%20minh%20hoa/TruyenThanhBangHinh/T_Teresa/T_Teresa15.jpg

Phần1:
http://thanhnhacvietnam.info/Vung_Nuoc/Bai_Giang/teresa/phan1t.mp3
Phần2:
http://thanhnhacvietnam.info/Vung_Nuoc/Bai_Giang/teresa/phan2t.mp3
Phần3:
http://thanhnhacvietnam.info/Vung_Nuoc/Bai_Giang/teresa/phan3t.mp3
Phần4:
http://thanhnhacvietnam.info/Vung_Nuoc/Bai_Giang/teresa/phan4t.mp3


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Thánh Phaolô nhắn nhủ các tín hữu thành Roma, "Không ai được sống cho mình và cũng không ai được chết cho mình. Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa; nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa" (Rm 14:7-8)
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Cầu cho các linh hồn mồ côi và xin Chúa giúp chúng ta tránh xa tội lỗi.
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Xác của Thánh Pio Năm Dấu

Xác của Thánh Pio Năm Dấu không bị hư thối sau 40 năm
và được trưng bày cho dân chúng đến viếng kính và cầu nguyện...

Thánh Pio Năm Dấu sinh ngày 25 tháng 5 năm 1887
tạ thế ngày 23 tháng 9 năm 1968
ngài được Đức Thánh Cha John Paul II Phong Thánh
ngày 16/6/2002


NHỤC THÂN BẤT HOẠI

BÍ ẨN HIỆN TƯỢNG XÁC CÁC THÁNH KHÔNG HƯ NÁT
QUYỀN NĂNG CỦA SIÊU NHIÊN


Có những thi thể không bị rữa nát qua thời gian dù không trải qua bất cứ sự can thiệp kỹ thuật nào. Hiện tượng có vẻ đi ngược với quy luật tự nhiên này được gọi là nhục thân bất hoại (incorruptible body).



Các tài liệu tôn giáo ghi nhận nhiều trường hợp các vị thánh “nhục thân bất hoại” : Thánh Jean Marie Baptiste Vieanney [Gioan Maria Vianê] (1786-1859) được khai quật năm 1904, xác cũng còn nguyên vẹn. Thánh Francis Xavier [Phanxicô Xaviê] (1506-1552) được chôn cất tại một đảo ở Trung Quốc trong quan tài bằng gỗ. Khoảng 2 tháng rưỡi sau, người ta khai quật mộ ngài để di chuyển, thấy thánh thể vẫn như lúc sống. Hiện nay di hài 400 năm tuổi của ngài vẫn còn nguyên và được lưu giữ tại thành Goa (Ấn Độ).

Bài Giảng Lễ Tôn Phong 117 Thánh Tử Đạo

http://www.daminhvn.com/thuvien/117tdvn/images/tdvn.jpg

Đang Suy Niệm
23 - Bài Giảng Lễ Tôn Phong 117 Thánh Tử Đạo VN - GH Gioan Phaolô II
Trk
Nội Dung
Tác Giả
Tham khảo
1 Bài Giảng Lễ Tôn Phong 117
GH Gioan Phaolô II Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Kính Nhớ Thánh Phaolô

http://mangconggiao.net/galleries1/albums/userpics/normal_121268091302_(640x766).JPG

Đang Suy Niệm
22 - Kính Nhớ Thánh Phaolô - SimonHoaDalat
Trk
Nội Dung
Tác Giả
Tham khảo
1 Phaolô Yêu Thương
Nguyễn Văn Chánh SNLoiChua.org
2 Kính Nhớ Thánh Phaolô
GM Trần Văn Khả SimonHoaDalat
3

Học và Sống Tinh Thần Phaolô - 1

GM Michael Saltarelli SimonHoaDalat
4

Học và Sống Tinh Thần Phaolô - 2

GM Michael Saltarelli SimonHoaDalat
5

Học và Sống Tinh Thần Phaolô - 3

GM Michael Saltarelli SimonHoaDalat


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Sống Năm Thánh Phaolô

Đang Suy Niệm
21 - Sống Năm Thánh Phaolô - Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
Trk
Nội Dung
Tác Giả
Tham khảo
0 Giới Thiệu Chương Trình Học Hỏi

LM. Giuse Nguyễn Thanh Liêm

Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
1 Phaolô Yêu Thương
Nguyễn Văn Chánh SNLoiChua.org
2 Thánh Phaolô là ai?
LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
3

Tại sao ta cần học hỏi

LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
4

Thánh Phaolô viết bao nhiêu ...?

LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
5

Có phải Saolô đổi tên....?

LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
6

Hành trình truyền giáo ....

LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
7

Tại sao Phaolô được gọi ...?

LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
8

Quan hệ giửa Phêrô và Phaolô ...?

LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
9

Quan hệ giửa Phaolô với ...?
(phần 1)

LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK
10

Quan hệ giửa Phaolô với ...?
(phần 2)

LM Nguyễn Khắc Hy,SS Liên Đoàn Công Giáo VN/HK

Còn tiếp ......................

Liên Đoàn Công Giáo VN/HK


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Năm Thánh Phaolô Tông Đồ

http://www.dunglac.org/upload/book/1228321750.jpg

CD Đang Suy Niệm
20 - Năm Thánh Phaolô Tông Đồ - Lấy Trọn CD - 38.6MB
Trk
Nội Dung
Tác Giả
Tham khảo
1 Năm Thánh Phaolô Tông đồ
Phúc Nhạc NS Trái Tim Đức Mẹ Số 368
2 Thánh Phaolô
Joan Carroll Cruz NS Đức Mẹ HCG Số 262
3

Thánh Phaolô, con người của hai nền văn hóa

Linh Tiến Khải Vietvatican.net


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Thánh Phanxicô Xaviê, Chứng Nhân Truyền Giáo

Thánh Phanxicô Xaviê, Chứng Nhân Truyền Giáo
VietCatholic News (01 Dec 2009 06:25)
Thánh Phanxicô chào đời tại Tây Ban Nha năm 1506. Ngài qua đời trên đảo Xan-xi-an, ngoài khơi bờ biển Quảng Đông Trung Quốc năm 1552. Thánh nhân được Đức Giáo Hoàng Grégoire XV phong thánh cùng thời với thánh Ignatiô Loyola, năm 1622; được ghi tên vào lịch Rôma năm 1623 và được tuyên phong là bổn mạng Ấn Độ và các nước Viễn Đông năm 1748. Cùng với thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, năm 1927, ngài được Đức Giáo hoàng Piô XI tuyên phong là bổn mạng các xứ truyền giáo.

Nói đến thánh Phanxicô Xaviê, người Kitô hữu ngày nay nghĩ ngay đến một trong những chứng nhân tiêu biểu nhất của lòng nhiệt thành truyền giáo. Thánh nhân như dấu chỉ Thiên Chúa dùng để chứng tỏ cho nhân loại thấy được tính phổ quát của Giáo hội mà Đức Kitô đã lập và không ngừng tác động cho nó tăng triển sâu rộng. Huấn lệnh mà Tôn Sư Giêsu đã mời gọi Nhóm Mười Một xưa vẫn luôn mới mẻ và thúc bách suốt dòng lịch sử: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Cảm nghiệm được giá trị và tầm vóc của sứ vụ mà Thầy Chí Thánh kêu mời, Thánh Phanxicô đã kịp thời đáp trả trong tinh thần yêu mến, dám sẵn sàng chấp nhận mọi nghịch cảnh trên hành trình rao giảng.

Nét đẹp trong tinh thần truyền giáo của Thánh Phanxicô phải kể đến trước hết, đó là thái độ từ khước danh vọng trần thế để được nhận lãnh gia tài vĩnh cữu nhờ việc hoán cải những tâm hồn. Vì thế, ngài đã nghiệm thấu lời vàng từ người bạn thân là thánh Inhatio Loyola: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì ?”. Khi đã chiến thắng được tham dục, ngài không ngừng sám hối theo Tin Mừng để triệt trừ tính kiêu căng trỗi dậy đòi ngài phải khuất phục trước cuồng vọng của xác thịt. Đây chính là khởi bước quan trọng giúp thánh nhân có thể tập chú tới việc cộng tác đắc lực cứu rỗi các linh hồn, làm cho Nước Chúa được rộng lan.

Chứng nhân truyền giáo thể hiện nơi Thánh Phanxicô đạt tới một chiều kích cao sâu hơn, ở việc ngài dám đối diện trước khó khăn, nghịch cảnh trên bước đường truyền giáo với niềm tín thác tuyệt đối vào tình thương Thiên Chúa. Khi được chỉ định sang Ấn Độ truyền giáo, Phanxicô đã rất vui mừng mừng. Nghiệm trước những khó khăn, Ngài đã bộc bạch với một người bạn: “ Tôi đã thấy rằng: phải chịu khổ nạn cho vinh danh Chúa Giêsu Kitô. Trước mặt tôi là những hoang đảo, những miền đất báo cho tôi biết trước cơn đói, cơn khát và cả đến cái chết dưới hàng ngàn hình thức. Tôi ao ước được chịu khổ hình hơn nữa". Ước muốn được dâng hiến trọn vẹn vì tình yêu Thập giá, Ngài đã cam chịu cách vui vẻ trước những khác biệt, hiểm nguy, cay đắng nơi vùng đất lạ. Ngài không sợ bị đe doạ đến tính mạng để cứu được nhiều linh hồn. Khi ngài muốn tới truyền giáo tại đảo More, người ta đã ngăn cản không cho ngài đi, vì đây là một hòn đảo nổi tiếng nguy hiểm; ngài đã khẳng khái trả lời: “Thì tôi bơi tới vậy…tôi sẽ chịu khổ gấp ngàn lần để cứu lấy một linh hồn thôi !”. Quyền năng Thiên Chúa đã thực thi thiện ý của ngài. Tại đảo More ngày nay, người ta vẫn còn gặp được những cộng đoàn Kitô giáo phồn thịnh đã từng được chính thánh Phanxicô Xaviê đem đến cho họ hạt giống Tin Mừng đầu tiên. Ở vương quốc Travance, khi nhóm người man-di muốn tràn ngập, thánh Phanxicô đã cầm thánh giá trong tay với một số ít tín hữu đã làm cho họ phải tháo lui. Vượt lên trên mọi thử thách hiểm nguy, thánh nhân đã sống đời vị tha cao cả, hy sinh nhẫn nại trong việc cải hoá các tâm hồn, như lời ngài trong thư gửi thánh Inhatio: “…Từ khi đến đây, tôi chẳng ngưng lúc nào: tôi rảo khắp các làng mạc, làm phép rửa cho nhiều trẻ em chưa được lãnh bí tích này…Khi tôi đến các làng ấy, trẻ em không để cho tôi đọc kinh nhật tụng, ăn uống, ngủ nghỉ, nếu tôi chưa dạy cho chúng một kinh. Vì thế, tôi bắt đầu hiểu tại sao Nước Trời lại là của những người giống như chúng…Tại các miền ấy, có nhiều người không được làm Kitô hữu, chỉ vì không có ai làm cho họ trở thành Kitô hữu. Nhiều lần tôi đã có ý định đi tới các đại học ở Châu âu, trước hết là đại học Pari, mà kêu gào khắp nơi như một kẻ mất trí mà thúc đẩy những người chỉ nghiên cứu học thuyết hơn là thực hành bác ái rằng: Tiếc thay chỉ vì lỗi các ông mà biết bao linh hồn thay vì lên thiên đàng lại phải xuống hoả ngục…” (Các Bài Đọc Kinh Sách, tr.635-636). Cư dân nơi thánh Phanxicô đặt bước chân truyền giáo bị đánh động không chỉ do các phép lạ giúp củng cố lời giảng của ngài, mà hơn hơn hết, chính bởi đức tin và lòng can đảm của thánh nhân.

Khát vọng đem Tin Mừng Chúa đến khắp mọi nơi thường trực trong con tim say nồng truyền giáo của thánh Phanxicô. Bước chân nhiệt thành tông đồ đã đưa ngài đến bao vùng đất tại Á đông. Không chỉ tung gieo những hạt mầm đức tin tại Ấn Độ, Malacca (Mã lai), Moluques, Nhật Bản…, thánh nhân đã từng ủ ấp giấc mộng chinh phục đại lục Trung Hoa. Ngài đã thành công khi đặt bước chân lên đảo Xan-xi-an, cửa ngõ vào Trung Quốc. Nhưng đáng tiếc thay, vị chứng nhân truyền giáo vĩ đại của chúng ta đã kiệt lực và nằm xuống bởi thời tiết mùa đông khắc nghiệt. “Ngài tắt thở trong khi cầu khẩn Chúa Ba Ngôi, danh thánh Chúa Giêsu và Đức Mẹ, tay cầm một cây nến. Ngài chỉ mới bốn mươi sáu tuổi. Trong mười một năm tám tháng truyền giáo, bằng những phương tiện của thời ấy, ngài đã đi khoảng tám mươi ngàn kilô mét, chỉ với một mục đích duy nhất là rao giảng Tin Mừng và thiết lập Hội Thánh” (Enzo Lodi, Chư Thánh theo lịch Rôma II, tr.334)

Thánh Phanxicô là chứng nhân và mẫu gương lý tưởng trong đời sống truyền giáo cho mọi Kitô hữu, đặc biệt là những người trẻ ở thời đại hôm nay. Trong khi phải đối diện với bao nhiêu thúc bách, đòi hỏi của lối sống tiện nghi vật chất, huấn lệnh truyền giáo của Đức Kitô vẫn không ngừng thúc giục chúng ta: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Liệu chúng ta có đủ can đảm khởi bước qua ngưỡng cửa của cái tôi vốn chất chứa bao tư lợi, tham vọng, để hướng tới việc sống - làm chứng cho sứ điệp yêu thương của Đức Kitô. Ở đó ta biết khước từ những gì là tạm bỡ, để can đảm, hy vinh vì lợi ích các linh hồn như thánh Phanxicô.
J.B. Nguyễn Quốc Tuấn
See Also


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Mở mộ Cha Thánh Piô và thấy thân xác của Ngài được bảo toàn tốt

Mở mộ Cha Thánh Piô và thấy thân xác của Ngài được bảo toàn tốt

NAPOLI, Italia -- Ngày Chúa Nhật 3/3/2008, đặc sứ Đức Thánh Cha là đức TGM Domenico D'Ambrosio cùng với tổ chức 'Voce Padre Pio – Tiếng Nói Cha Piô’ và các linh mục đã mở quan tài Cha Thánh Piô và thấy thân xác ngài vẫn còn được duy trì tốt đẹp.

Cha Thánh Piô là một linh mục người Ý rất thời danh và được toàn dân Ý mến chuộng. Cha Piô trước đây là một tu sĩ dòng Phanxicô khó khăn và có rất đông người Ý cũng như người ngoại quốc kính chuộng và thường đến nghe người giảng. Cha là vị tu sĩ trong cuộc sống trần gian đã được in 5 dấu đanh của Chúa. Hai tay tay và 2 chân của ngài, cũng như cạnh sườn, luôn được băng bó vì máu luôn chảy ra từ 5 vết thương như 5 vết đinh của Chúa trên thánh giá. Sự kiện phi thường này không thể giải thích nổi.

Cha Piô qua đời năm 1968 và đến năm 2002, ĐGH John Paul II đã phong hiển thánh cho ngài.

Giáo hội muốn cải táng xác ngài và sẽ trưng bầy cho dân chúng chiêm ngắm vào cuối năm nay, để dân chúng đến cầu nguyện nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Ngài qua đời.



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

BÍ ẨN HIỆN TƯỢNG XÁC CÁC THÁNH KHÔNG HƯ NÁT

BÍ ẨN HIỆN TƯỢNG XÁC CÁC THÁNH KHÔNG HƯ NÁT
QUYỀN NĂNG CỦA SIÊU NHIÊN


Có những thi thể không bị rữa nát qua thời gian dù không trải qua bất cứ sự can thiệp kỹ thuật nào. Hiện tượng có vẻ đi ngược với quy luật tự nhiên này được gọi là nhục thân bất hoại (incorruptible body).

Thánh Bernadette (Lourder, Pháp) là một ví dụ điển hình. Bà qua đời ở tuổi 35. Và 30 năm sau đó (1909), vì một nghi lễ tôn giáo, nhà thờ đã khai quật mộ. Đại diện nhà thờ, bác sĩ phẫu thuật và những người chứng kiến đã vô cùng kinh ngạc khi thấy thi thể của bà vẫn nguyên vẹn, dường như đang trong một giấc ngủ dài.


Thánh Bernadette trong quan tài pha lê



Bác sĩ phẫu thuật Tourdan đã ghi lại những gì ông quan sát được: “Cỗ quan tài của bà được mở ra dưới sự chứng kiến của mọi người trong đó có tôi. Di hài của Thánh Bernadette trong trang phục yêu thích của bà không hề có mùi xú uế. Khuôn mặt, bàn tay và cẳng tay lộ ra bên ngoài. Đầu của bà nghiêng sang một bên, miệng hé mở có thể nhìn thấy hàm răng trắng. Hai tay đặt trên ngực, vẫn giữ được lớp da hoàn hảo”. Gia đình của Thánh Bernadette đã làm lễ tắm rửa, thay quần áo và quan tài cho bà. Di hài của bà được đặt vào một vị trí mới sâu trong nhà mồ.

Vào năm 1913, Đức Giáo Hoàng Pius X phong Chân Phước cho Bernadette. Điều này đồng nghĩa với việc mộ của bà được mở ra một lần nữa. Việc này bị gián đoạn đến năm 1919 vì cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều kinh ngạc là ở lần khai quật này, di hài của bà vẫn nguyên vẹn.

Năm 1925, Thánh nữ Bernadette được Đức Giáo hoàng Pius XI phong Thánh. Lần thứ ba, mộ bà được mở ra. Di hài được đưa vào một quan tài bằng pha lê cho mọi người chiêm ngưỡng và quàn tại nhà nguyện ở Nhà thờ Lourder cho đến tận ngày nay vẫn còn, nếu có dịp xin mời các bạn đến thăm để được tận mắt chứng kiến.

Hùng hồn không kém là thi hài của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (Đấng triệu tập Thánh Công Đồng Chung Vatican II năm 1962). Ngài qua đời ngày 03/06/1963 khi Công Đồng vẫn đang diễn ra, và sau đó Đức Hồng Y Montini lên ngôi với hiệu triều Đức Thánh Cha Phaolô VI tiếp tục Thánh Công Đồng.


Thi hài của ĐTC John XXIII được đặt ngay bên dưới chân bàn thờ chính của Đền thờ thánh Phêrô để dân chúng chiêm ngắm



38 Năm sau ngày ngài băng hà, Tòa Thánh tiến hành các thủ tục tôn phong Chân Phước cho ngài, khi mở quan tài để kiểm tra thì phát hiện xác chết của ngài không hề mảy may hư nát và thối rữa. Thời gian sau, ngài được tôn phong Chân Phước (Beautification).

Hiện nay, thi hài của ĐTC Gioan XXIII đã được đưa lên đặt trong 1 quan tài bằng pha lê bên dưới bàn thờ chính của Đền thờ Thánh Phêrô để dân chúng có thể kính viếng và chiêm ngắm. Nét mặt ngài vẫn giữ nguyên sức sống và cơ thể không hề bị tẩm ướp bằng bất cứ loại hóa chất nào. Hầm mộ cũ trước đây nơi đặt quan tài của ngài bây giờ đã được thế chỗ bằng quan tài của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.


Thi hài Đức Thánh Cha John XXIII



Các tài liệu tôn giáo ghi nhận nhiều trường hợp các vị thánh “nhục thân bất hoại”. Thánh Jean Marie Baptiste Vieanney [Gioan Maria Vianê] (1786-1859) được khai quật năm 1904, xác cũng còn nguyên vẹn. Thánh Francis Xavier [Phanxicô Xaviê] (1506-1552) được chôn cất tại một đảo ở Trung Quốc trong quan tài bằng gỗ. Khoảng 2 tháng rưỡi sau, người ta khai quật mộ ngài để di chuyển, thấy thánh thể vẫn như lúc sống. Hiện nay di hài 400 năm tuổi của ngài vẫn còn nguyên và được lưu giữ tại thành Goa (Ấn Độ).


Di hài Thánh Francis Xavier [Phanxicô Xaviê]



Khoa học đang tìm lời giải

Các tài liệu tôn giáo nhìn chung đều cho rằng hiện tượng các vị thánh đạt tới nhục thân bất hoại là do sức mạnh siêu nhiên của Thiên Chúa, hoặc tu luyện đến độ gột rửa sạch mình đến mức cơ thể không thể bị phân hủy.

Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu hiện tượng này, nhưng theo một hướng khác tuy nhiên vẫn chưa có lời giải. Một giả thiết được đưa ra là trong những điều kiện môi trường, vật chất khá đặc biệt (như nhiệt độ, độ ẩm, yếm khí), vi khuẩn bị tiêu diệt làm quá trình phân rã theo tự nhiên không thể thực hiện. Nhưng xem ra giả thiết này không phù hợp, vì khi họ đưa xác các Thánh ra điều kiện môi trường bình thường, nó cũng không bị hư nát.


Di hài Thánh Vincent de Paul [Vinhsơn Phaolô]



Cho đến nay, chưa có cơ sở nào để giải thích hiện tượng nhục thân bất hoại. Hiện tượng này đang bị bao phủ bởi một bức màn kỳ ảo, và tất cả vẫn đang là giả thiết. Khoa học đang đau đầu khi tiếp cận với các thế lực của siêu nhiên.


Di hài Thánh Catherine Laboure (1806-1876)



Có rất nhiều trường hợp các Thánh khác xác không thối rữa và hư nát, ngược lại còn bốc mùi của hương hoa hồng như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Thánh Martinô de Porrés...nhưng không liệt kê ra ở đây vì chưa kiếm thấy tài liệu hình ảnh, Peter sẽ post ngay khi kiếm được ảnh chứng thực như các ảnh trên.

Nguồn: Peter tổng hợp + English Wikipedia + Báo Khoa Học


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Thánh Luigi Orione

St. Luigi Orione
(1872-1940)

St Luigi OrioneThánh Luigi Orione vào đời ở Pontecurone, giáo phận Tortona ngày 23 tháng 6 năm 1872. Vào năm 13 tuổi em vào Dòng Phanxicô ở Voghera (Pavia), nhưng sau đó một năm đã không thể tiếp tục vì lý do kém sức khỏe. Từ năm 1886 đến 1889, em là một học sinh của Thánh Gioan Bosco ở Valdocco Oratory (Trung Tâm Giới Trẻ) ở Turin, Tây Ban Nha.

Ngày 16/10/1889, cậu đã nhập chủng viện giáo phận Tortona. Là một chủng sinh trẻ, cậu dấn thân chăm sóc cho những người khác bằng việc trở thành một phần tử của cả tu hội Thánh Marziano Cho Việc Tương Trợ lẫn tu hội Thánh Vinh Sơn Phaolô. Ngày 3/7/1892 cậu đã mở một giảng phòng đầu tiên ở Tortona để giáo dục Kitô giáo cho các em trai. Năm sau, vào ngày 15/10/1893, năm 21 tuổi, cậu bắt đầu một trường nội trú cho những em trai nghèo ở khu đất Thánh Bernardinô.

Ngày 13/4/1895, Luigi Orione được thụ phong linh mục, và cũng trong dịp này, ÐGM đã cho 6 học sinh nội trú của ngài mặc áo giáo sĩ. Trong một thời gian ngắn, ngài đã mở thêm những nhà mới ở Mornico Losana (Pavia), Noto (Sicily), Sanremo và Rôma.

Vị sáng lập viên trẻ tuổi tài cao này đã tập trung được một nhóm những linh mục và chủng sinh để làm thành một nhóm nồng cốt đầu tiên cho tổ chức "Công Việc Nhỏ Bé của Ðấng Quan Phòng Thần Linh". Năm 1899, ngài thành lập ngành "Ẩn Sĩ của Ðấng Quan Phòng Thần Linh". ÐGM ở Tortona là Ðức Cha Igino Bandi, qua Sắc Lệnh ban hành ngày 21/3/1903, đã chuẩn nhận hội Những Nam Tử Của Ðấng Quan Phòng Thần Linh (bao gồm các vị linh mục, chủng sinh và ẩn sĩ), một dòng nam của tổ chức Công Việc Nhỏ Bé Của Ðấng Quan Phòng Thần Linh. Mục đích của tổ chức này là để "hợp tác trong việc mang những con người nhỏ bé, nghèo hèn và dân chúng về với Giáo Hội và Giáo Hoàng, bằng các hoạt động bác ái". Tu sĩ dòng này phải tuyên thêm lời khấn thứ tư đặc biệt "trung thành với Ðức Giáo Hoàng". Trong Bản Hiến Pháp đầu tiên năm 1904 hội dòng mới này còn có mục đích hoạt động để "đạt được mối hiệp nhất của các Giáo Hội tách biệt".

Ðược thúc đẩy bởi lòng thiết tha mến yêu Giáo Hội và phần rỗi các Linh Hồn, ngài đã chủ động chú trọng tới những vấn đề mới trong thời của ngài, như vấn đề quyền tự do và mối hiệp nhất của Giáo Hội, vấn đề người Rôma, vấn đề tân tiến thuyết, xã hội thuyết và việc truyền bá phúc âm hóa cho những công nhân làm việc cho ngành kỹ nghệ.

Ngài đã mau mắn giúp đỡ cho những nạn nhân của các cuộc động đất ở Reggio và Messina (1908) cũng như ở miền Marsica (1915). Ngài đã được Thánh Giáo Hoàng Piô X đăt làm Tổng Ðại Diện cho giáo phận Messina 3 năm.

Ngày 29/6/1915, 20 năm sau khi thành lập hội dòng Những Nam Tử của Ðấng Quan Phòng Thần Linh, ngài đã lập thêm hội dòng Các Chị Em Thừa Sai Bác Ái Nhỏ Bé. Sau đó, ngài còn lập hội dòng Chị Em Chiêm Niệm Chúa Giêsu Tử Giá.

Về phía giáo dân, ngài lập các hiệp hội như "Các Nữ Lưu Của Ðấng Quan Phòng Thần Linh", "Cựu Học Sinh" và "Chư Thân Hữu". Gần đây còn xuất hiện những hội hay phong trào mang tên của ngài như Don Orione Secular Institute và Don Orione Lay People's Movement.

Sau Ðại Chiến Thứ Nhất (1914-1918), số học đường, những nhà lưu trú, các trường dạy canh nông, các hoạt động bác ái và an sinh đã tăng phát. Trong số những hoạt động dấn thân và nguyên thủy nhất của ngài còn có những "Little Cottolengos" để chăm sóc cho thành phần đau khổ và bị bỏ rơi, những nơi thường được xây cất ở những vùng ngoại ô các thành phố lớn với vai trò như "những tòa giảng mới" để nói về Chúa Kitô và về Giáo Hội là "những ngọn hải đăng thực sự của đức tin và của văn minh".

Lòng nhiệt thành truyền giáo của ngài đã được thể hiện vào năm 1913 khi ngài thoạt sai tu sĩ dòng ngài đến Ba Tây, rồi sau đó đến Á Căn Ðình và Uruguay (1921), đến Palestine (1921), đến Balan (1923), đến Rhodes (1925), đến Hiệp Chủng Quốc (1934), đến Anh Quốc (1935), đến Albania (1936). Vào những 1921-1922 và 1934-1937, chính ngài đã thực hiện hai chuyến truyền giáo đến Mỹ Châu Latinh, như đến Á Căn Ðình, Ba Tây và Uruguay tới tận Chí Lợi.

Ngài được các vị giáo hoàng và thẩm quyền Tòa Thánh trọng vọng, nên ngài được Giáo Hội ủy thác cho những công việc mật kín giải quyết những vấn đề và chữa lành các tổn thương cả bên trong lòng Giáo Hội lẫn đối với những mối liên hệ với xã hội.

Ngài là một nhà giảng thuyết, một cha giải tội và chuyên viên hăng say tổ chức các cuộc hành hương, các việc truyền giáo, các cuộc rước kiệu, các cảnh hang đá sống cũng như những cuộc biểu lộ và cử hành đức tin.

Ngài hết sức tôn sùng Ðức Mẹ và phổ biến lòng tôn sùng Ðức Mẹ bao nhiêu có thể. Bằng lao công của những chủng sinh thuộc thẩm quyền mình, ngài đã xây cất những đền thánh Our Lady of Safe Keeping ở Tortona và Our Lady of Caravaggio ở Fumo. Vào mùa đông năm 1940, ngài đã về nhà Sanremo để dưỡng bệnh tim và phổi. Sau đó 3 ngày, tức vào ngày 12 tháng 3 năm 1940, ngài đã qua đời giữa anh em của mình, bằng tiếng thở than: "Giêsu ơi, Giêsu ơi! con ra đi đây".

St Luigi Orione's Incorrup Body

Thân thể của ngài còn nguyên vẹn sau cuộc cải mộ đầu tiên vào năm 1965. Thi thể này đã được trưng bày cho tín hữu kính viếng ở Ðền Thánh Our Lady of Safe Keeping từ ngày 26 tháng 10 năm 1980, ngày Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên phong ngài lên hàng Chân Phước. Và ngài đã được chính vị giáo hoàng này phong thánh ngày 16 tháng 5 năm 2004 tại Quảng Trường Thánh Phêrô, Chúa Nhật VI Phục Sinh. Ngài là vị sáng lập một hội dòng tuyên khấn thêm lời khấn trung thành với Giáo Hoàng.

Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS
(Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Santi-Beati-Testimoni)



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Thánh Têrêsa Avila

Thánh Têrêsa Avila

§ Kim Hà

Bộ chuyện Thánh Nữ Têrêsa Avila (hay Thánh Têrêsa Mẹ, Tiến sĩ Hội thánh): "Vị thánh hay xuất thần".

Nguyên tác: The Saint of Ecstasy

Tác giả: Rene Fulop-Miller

Chuyển ngữ: Đặng Xuân Thành

Imprimatur: Nha Trang, ngày 15/10/1999 - Phaolô Nguyễn Văn Hoà, Giám Mục Nha Trang


Phần #: ( 1 ), ( 2 ), ( 3 ), ( 4 ), ( 5 ), ( 6 ), ( 7 ), ( 8 ), ( 9 ), ( 10 ), ( 11 ), ( 12 ), ( 13 ), ( 14 ), ( 15 ), ( 16 ), ( 17 ), ( 18 ), ( 19 ), ( 20 ), ( 21 ), ( 22 ), ( 23 ), ( 24 ), ( 25 ), ( 26),

~~~~~~~ Linh Hồn Con Ngợi Khen Chúa ~~~~~~~~

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.
Related Posts with Thumbnails

Tìm kiếm trên website MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Loading