Hiển thị các bài đăng có nhãn CHỨNG NHÂN CÔNG GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHỨNG NHÂN CÔNG GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng

Tiểu sử Linh Mục Phanxicô TRƯƠNG BỬU DIỆP

Lm. Phanxico Xavie TRƯƠNG BỬU DIỆP



Tiểu sử Linh Mục
Phanxicô TRƯƠNG BỬU DIỆP
(Tiểu sử này do cha Nguyển Ngọc Tỏ viết, ngài là Cựu cha sở họ Tắc Sậy, nơi có mộ cha Phanxicô Trương Bửu Diệp)

Linh Mục Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 01-01-1897, được Cha Giuse Sớm rưả tội ngày 2-2-1897 tại họ đạo Cồn Phước, làng Tấn Ðức, nay thuộc ấp MỸ LỢI, xã Mỹ Luông, Chợ Mới, Tỉnh An-Giang

Cha ngài là MICAE TRƯƠNG VĂN ÐẶNG (1860-1935).

Mẹ ngài là LUCIA LÊ-THỊ-THANH.

Gia-đình sinh sống tại họ đạo CỒN PHƯỚC.

Năm 1904,lúc ngài lên 7 tuổi thì mẹ mất. Theo cha, gia đình dời lên BẮCTAMBANG CAMPUCHIA, sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyển thị Phước, sinh năm 1890, quê quán họ Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẩu đã sinh cho ngài người em gái tên là Trương thị Thìn (1913), hiện còn sống tại họ đạo Bến dinh, xã Tân Hoà, huyện Thanh Bình, tỉnh Ðồng Tháp.

Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳng Tiền cho ngài vào tiểu chủng viện Cù lao Giêng, xã Tấn Mỹ, Chợ Mới An Giang. Mãn tiểu chủng viện, ngài lên Ðại chủng viện Nam Vang ,Campuchia (lúc đó các họ đạo khu vực Ðồng bằng sông Cửu Long trực thuộc giáo phận Pnom Penh, Campuchia).

Năm 1924, sau thời gian tu học, ngài được thụ phong Linh mục tại Nam Vang, thời Ðức Cha Gioan Bí tích Chabalier. Lể vinh quy và mở tay được tổ chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước.

Năm 1924-1927, được bề trên bổ nhiệm làm cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt Nam sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia.

Năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Cù lao giêng.

Tháng 3 năm 1930, ngài về nhậm họ đạo Tắc Sậy. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡû, thành lập nhiều họ đạo vùng phụ cận như: Bà Ðốc ,Cam Bô, An Hải, Ðầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Ðồng Gò, Rạch Rắn.

Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc, bà con nhân dân di tản, Cha Bề

Trên điạ phận Phêrô Trần Minh Ký ở Bạc Liêu và cả người Pháp cũng gọi ngài lánh mặt, khi nào tình hình yên ổn thì trở về họ đạo, nhưng ngài trả lời: "Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết."

Ngày 12-3-1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 người giáo dân tại họ Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt chung với bổn đạo tại lẫm luá của ông giáo Sự ở Cây Dừa. Do sự tranh chấp giữa các giáo phái, vì bênh vực quyền lợi của giáo dân, ngài đã chết thay thế cho những người bị bắt chung. ( 2 )

Ngài mất trong khi thi hành nhiệm vụ chủ chăn. Xác ngài được vớt lên từ một cái ao của ông giáo Sự, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi như Chuá Giêsu trên thập giá.

Thi hài ngài được chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo. Ðến năm 1969, hài cốt ngài được di dời về nhà thờ Tắc Sậy, nhiệm sở của ngài thi hành chức vụ chủ chăn trong 16 năm. Ngôi nhà mồ của ngài hiện nay, được trùng tu và khánh thành ngày 4-6-1989. Ngài là Cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy.

Lời Ðức kitô đã dạy: Người mục tử tốt lành hiến mạng sống vì đoàn chiên. Linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp đã thực hiện lời Ðức kitô trong cuộc sống, ngài đã hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chuá, ngài đã hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên. Chúng ta có thể tóm tắt cuộc đời của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp là:

TẬN HIẾN CUỘC ÐỜI CHO THIÊN CHUÁ,
HY SINH KIẾP SỐNG GIÚP CON NGƯỜI.
và
SỐNG HIẾN THÂN PHÓ THÁC,
CHẾT NÊU GƯƠNG SÁNG NGỜI
để
MỘT ÐỜI DÂNG HIẾN,
TRỌN KIẾP VINH QUANG.

Hàng ngàn người lương giáo, gần xa đã đến Tắc Sậy với cha Phanxicô để nguyện cầu, để khấn xin, để trút những nổi lo, gánh nặng vật chất, tinh thần để ngài chuyển lên Thiên Chúa và Thiên Chuá đã chấp nhận chúc phúc cho những khấn ước, nguyện xin. Xin cảm tạ hồng ân Thiên Chuá đã vinh quang qua Cha Phanxicô.

Nhiều người đã đến, đã ở lại, đã trở về, để còn nhớ:

Ra về còn nhớ Tắc Sậy,
Xứ đạo nhỏ bé sình lầy đường xa,
Hồng Ân Thiên Chuá ban ra,
Ðoàn con lương giáo gần xa viếng Người
Những ai đau khổ đôi phần,
Nguyện xin Cha thánh đỡõ đần ủi an,
Những ai gặp bước gian nan,
Nguyện xin Cha thánh lo toan mọi bề,
Những ai đau khổ đường về,
Cậy trông Cha thánh tràn trề hồng ân.

Linh Mục Nguyển Ngọc Tỏ



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

KINH NGHIỆM ĐỜI SAU

KINH NGHIỆM ĐỜI SAU

Tôi sinh ngày 16 tháng 7 năm 1949 tại Kerala, Ấn Độ. Cha mẹ của tôi là Joseph và Theresa Maniyangat. Tôi là người con lớn nhất tr ong 7 anh chị em: Jose, Mary, Theresa, Lissama, Zachariah, Valsa và Tom.



Năm 14 tuổi, tôi nhập tiểu-chủng-viện St. Mary ở Thiruvalla để bắt đầu học làm linh-mục. Bốn năm sau, tôi lên đại chủng-viện St. Joseph’s Pontifical ở Alwaye, Kerala để tiếp tục tu thành linh mục. Sau 7 năm triết học và thần học, tôi được thụ ph ong linh mục ngày 1 tháng 1 năm 1975 để phục vụ như một nhà truyền giáo tại Giáo Phận Thiruvalla.



Năm 1978, tr ong khi đang dạy tại tiểu-chủng-viện St. Thomas ở Bathery, tôi đã trở thành một thành-viên hoạt-động của ph ong trào Canh Tân Đặc Sủng và bắt đầu hướng dẫn các cuộc tĩnh tâm, đại hội ở Kerala.



Vào Chúa Nhật Lễ Kính Lòng ChúaThương Xót ngày 14 tháng 4 năm 1985, trên đường đi dâng lễ cho một nhà thờ truyền giáo ở phía bắc Kerala, tôi đã bị một tai nạn chí tử. Đang lái xe gắn máy tôi bị một chiếc xe jeep đụng vào đầu xe.Tài xế say rượu sau một lễ Ấn giáo. Tôi được chuyển gấptới bệnh viện cách xa khoảng 35 dặm. Trên đường tới bệnh viện, linh hồn tôi đã lìa khỏi xác, và tôi đã cảm nghiệm sự chết. Lập tức, tôi gặp Thiên Thần bản mệnh. Tôi nhìn thấy xác mình và những người đưa tôi đến bệnh viện. Tôi nghe tiếng họ khóc và cầu nguyện cho tôi. Lúc đó Thiên Thần bản mệnh nói với tôi: “Ta sắp đưa người lên Thiên Đàng; Thiên Chúa muốn gặp và nói chuyện với người.” Thiên Thần bản mệnh cũng nói với tôi trên đường đi sẽ cho tôi thấy Hỏa Ngục và Luyện Ngục.


Trước tiên, Thiên Thần dẫn tôi tới Hỏa Ngục. Thật là một cảnh khủng khiếp! Tôi đã thấy Satan và các quỷ dữ, một biển lủa không thể dập tắt khoảng 2000 độ F, giòi bọ bò lúc nhúc, người ta la hét, cãi cọ, một số khác đang bị quỷ dữ tra tấn. Thiên Thần bảo tôi tất cả những người này đang thọ hình vì đã không ăn năn các tội trọng. Rồi tôi hiểu rằng có 7 mức độ cực hình tuỳ theo số lần và những loại tội trọng mà họ đã phạm khi còn sống. Những linh hồn đó rất xấu xí, độc ác và khủng khiếp. Đó là một kinh nghiệm đáng sợ. Tôi nhìn thấy một số người quen nhưng tôi không được phép tiết lộ danh tánh. Những tội họ bị lên án chủ yếu là: phá thai, đồng tính luyến ái, trợ tử, ghen ghét, không tha thứ và phạm thánh. Thiên Thần bảo tôi rằng, nếu những người này đã thống hối, họ có thể tránh được Hỏa Ngục, chỉ phải vào Luyện Ngục. Tôi cũng hiểu rằng một số người ăn năn các tội đã phạm có thể được thanh tẩy tại thế qua việc chịu đựng các đau khổ. Bằng cách đó, họ sẽ tránh được luyện ngục và được lên thẳng Thiên Đàng.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy có cả các linh mục và giám mục ở Hỏa Ngục. Tr ong số đó, một số người tôi không bao giờ ngờ. Nhiều người tr ong số họ bị sa Hỏa Ngục vì đã dẫn người khác lạc đưòng bởi việc giảng dạy sai lạc và gương xấu.

Sau khi thăm Hỏa Ngục, Thiên Thần dẫn tôi đến Luyện Ngục. Ở đây cũng vậy, có 7 mức độ cực hình và lửa không thể tắt. Tuy nhiên mức độ ít khủng khiếp hơn ở Hỏa Ngục rất nhiều và gười ta không gây gổ cũng chẳng cãi cọ. Nỗi đau khổ chính của các linh hồn là sự xa cách Chúa. Một số người tr ong Luyện Ngục mắc nhiều tội trọng nhưng họ đã giao hòa với Chúa trước khi chết. Mặc dù những linh hồn này đang chịu đau khổ, họ vẫn hưởng sự bình an và biết rằng ngày nào đó họ sẽ được thấy Chúa nhãn tiền.



Tôi có cơ hội giao tiếp với linh hồn ở Luyện Ngục. Họ xin tôi cầu nguyện và nói mọi người cầu nguyện cho họ để họ sớm được về Thiên Đàng. Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục, chúng ta sẽ nhận được sự biết ơn của họ qua những lời họ cầu nguyện. Một khi họ về Thiên Đàng, những lời họ cầu nguyện cũng trở thành đáng giá hơn!



Thật rất khó mà diễn tả Thiên Thần bản mệnh của tôi đẹp như thế nào. Ngài sáng láng và rực rỡ. Ngài luôn đồng hành với tôi tr ong việc mục vụ, đặc biệt là mục vụ chữa lành. Tôi cảm nhận sự hiện diện của ngài bất cứ nơi nào tôi đi và biết ơn sự bảo vệ của ngài tr ong đời sống hằng ngày của tôi.



Kế tiếp, Thiên Thần dẫn tôi tới Thiên Đàng băng qua một đường hầm lớn trắng chói lọi. Tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được nhiều bình an và hoan hỉ như thế này tr ong đời. Rồi lập tức, trời mở ra và tôi nghe điệu nhạc du dương tuyệt vời chưa từng nghe. Các Thiên Thần đang ca hát và chúc tụng Chúa. Tôi thấy tất cả các thánh, đặc biệt là Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse và nhiều thánh giám mục, linh mục. Những vị này sáng láng như các vì sao. Khi tôi đến trước mặt Chúa, Chúa Giêsu bảo tôi “Cha muốn con trở lại trần gian. Tr ong cuộc sống thứ hai, con sẽ trở nên một khí cụ hòa bình và chữa lành cho dân của ta. Con sẽ bước đi tr ong một miền đất lạ và con sẽ nói tiếng nước ngoài. Với ân sủng của Cha, con có thể làm mọi sự. Sau những lời đó, Đức Mẹ bảo tôi “Hãy làm bất cứ những gì Chúa bảo con, Mẹ sẽ giúp con tr ong công việc mục vụ của con.”



Ngôn từ không thể diễn tả được vẻ đẹp của Thiên Đàng. Nơi đó chúng ta thấy rất bình an và hạnh phúc vượt quá hằng triệu lần chúng ta tưởng tượng. Chúa chúng ta đẹp hơn rất xa bất cứ hình ảnh nào có thể diễn đạt. Mặt của Ngài rực rỡ, sáng và đẹp hơn ngàn mặt trời mọc. Những bức tranh chúng ta thấy trên đời chỉ là những bóng mờ của sự lộng lẫy của Ngài. Đức Mẹ bên cạnh Chúa Giêsu, Mẹ rất đẹp và sáng láng. Không một hình ảnh nào trên trần có thể sánh với vẻ đẹp thật của Mẹ. Thiên Đàng là quê thật của chúng ta. Tất cả chúng ta được tạo dựng để đạt tới Thiên Đàng và vui hưởng Chúa mãi mãi. Sau đó tôi trở lại trần gian cùng Thiên Thần của tôi.


Lúc xác tôi ở bệnh viện, bác sĩ đã kiểm tra toàn bộ và công nhận tôi đã chết. Nguyên nhân của sự tử v ong là mất máu. Gia đình tôi được thông báo và vì họ ở rất xa, nhân viên bệnh viện quyết định đưa thi thể tôi xuống nhà xác bởi vì bệnh viện không có máy lạnh, họ lo ngại xác sẽ nhanh chóng bị thối rữa.



Khi họ đang chuyển thi thể tôi đến nhà xác, linh hồn tôi trở lại thân xác. Tôi cảm thấy rất đau đớn vì những thương tích và nhiều xương bị gẫy. Tôi bắt đầu rên la, rồi người ta sợ hãi, la hét bỏ chạy. Một tr ong những người đó đi gặp bác sĩ và nói “Xác chết đang rên la.” Bác sĩ đến kiểm tra thân thể tôi và phát hiện tôi vẫn còn sống. Do đó ông nói “Cha còn sống, thật là phép lạ, hãy đem ông trở lại bệnh viện.”



Bây giờ, trở lại bệnh viện, họ truyền máu cho tôi và mổ đễ sắp lại những xương đã bị gẫy. Họ sửa lại xương hàm dưới, xương sườn, xương chậu, xương cổ tay và xương chân phải của tôi.Sau hai tháng, tôi được xuất viện, nhưng bác sĩ chỉnh hình nói tôi không bao giờ có thể đi lại được nữa. Tôi nói với ông: “Thiên Chúa, Đấng đã cho tôi sống lại và gửi tôi về trần gian sẽ chữa lành tôi.” Khi về nhà, tất cả chúng tôi cầu xin một phép lạ .Sau một tháng, cắt băng bột, tôi vẫn không thể đi lại được. Nhưng một ngày, tr ong khi cầu nguyện, tôi cảm thấy đau bất thường ở vùng xương chậu. Một lúc sau, cơn đau hoàn toàn biến mất và tôi nghe có tiếng nói: “Con đã được chữa lành, đứng dậy và đi.” Tôi cảm thấy an bình và lực chữa lành tr ong người tôi. Lập tức tôi đứng dậy và bước đi. Tôi ngợi khen và cảm tạ Chúa đã cho phép lạ này.


Tôi đến gặp bác sĩ với cái tin tôi được chữa lành, ông rất kinh ngạc. Ông nói: “Thiên Chúa của ông là Chúa thật. Tôi phải theo Chúa của ông.” Bác sĩ này theo Ấn giáo. Ông yêu cầu tôi dậy ông về Giáo Hội. Sau khi học hỏi đức tin, tôi rửa tội cho ông và ông đã trở thành người Công Giáo.



Tuân theo sứ điệp từ Thiên Thần bản mệnh, tôi đến Hoa Kỳ ngày 10 tháng 11 năm 1986, với tư cách một linh mục truyền giáo. Lúc đầu, tôi phục vụ tại Giáo Phận Boise ở Idaho từ năm 1987 tới 1989, rồi trở thành tuyên úy nhà tù tr ong Giáo Phận Orlando, Florida từ năm 1989 tới 1992.



Năm 1992, tôi thuyên chuyển đến Giáo Phận Thánh Augustinô và trước tiên được bổ mhiệm phục vụ tại giáo xứ Thánh Máthêu ở Jacksonville tr ong hai năm. Sau đó tôi được bổ nhiệm làm cha phó nhà thờ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời từ năm 1994 đến 1999. Năm 1997, tôi được chính thức công nhận là linh mục thuộc giáo phận. Từ tháng 6 năm 1999 đến nay, tôi là chánh xứ nhà thờ St. Mary's Mother of Mercy ở MacClenny, Florida. Đồng thời tôi cũng phục vụ với tư cách tuyên úy công giáo cho nhà tù tiểu bang Florida tại Starke, trung tâm cải huấn Raiford và bệnh viện Northeast Florida State ở MacClenny. Tôi cũng là cha linh hướng của Hội Lêgiô Maria của địa phận.



Vào mỗi thứ bảy đầu tháng, tôi tổ chức giờ chầu Thánh Thể và nghi thức chữa lành tại giáo xứ St. Mary Mother of Mercy của tôi. Người ta đến từ khắp nơi tr ong giáo phận, từ nhiều nơi thuộc tiểu bang Florida và ngay cả từ các tiểu bang khác. Tôi đã được mời đến tổ chức mục vụ chữa lành ở nhiều thành phố lớn của Hoa-Kỳ kể cả: New York, Philadelphia, Washington DC, San Jose, Dallas, Chicago, Birmingham, Denver, Boise, Idaho Falls, Hawaii, Miami, Ft. Lauderdale, Poolsville; và nhiều nước khác: Ireland, Spain, Czech Republic, India, France, Portugal, Yugoslavia, Italy, Canada, Mexico, Cayman Island, và Ontario (Canada).



Qua mục vụ chữa lành bằng Thánh Thể này, tôi đã chứng kiến nhiều người được chữa lành về thể xác, tâm linh, lý trí cũng như cảm xúc. Nhiều bệnh khác nhau như ung thư, AIDs, viêm khớp, tim, mắt, phù thủng, xuyễn, đau lưng, lãng tai và nhiều bệnh khác đã được chữa khỏi hoàn toàn. Thêm vào đó, nhiều lần tr ong năm tôi tổ chức mục vụ chữa lành đặc biệt về giòng tộc, qua đó những hậu quả bởi tội lỗi của tiền nhân được ngăn chặn và người ta nhận được sự chữa lành hoàn toàn. Thánh kinh nói hậu quả của tội do cha mẹ lưu truyền tử 3 đến 5 đời (Exodus chương 34:7) Vì thế, tr ong nhiều trường hợp chúng ta cần sự chữa lành về gia tộc. Bác sĩ và thuốc men không thể chữa lành một số bệnh tật nào đó nguyên nhân từ gia tộc.


Tr ong mục vụ chữa lành, đã có nhiều người được nghỉ ngơi tr ong Thánh Thần trước Bí tích Thánh Thể và một số được đổi mới tâm hồn và chữa lành về thân xác.

Tường thuật của Linh Mục Jose Maniyangat



Chuyển ngữ: Ân-Vũ.



www.stmarymacclenny.com.

I was born on July 16, 1949 in Kerala , India to my parents, Joseph and Theresa Maniyangat. I am the eldest of seven children: Jose, Mary, Theresa, Lissama, Zachariah, Valsa and Tom.

At the age of fourteen, I entered St. Mary’s minor seminary in Thiruvalla to begin my studies for the priesthood. Four years later I went to St. Joseph ’s Pontifical Major Seminary in Alwaye, Kerala to continue my priestly formation. After completing the seven years of Philosophy and Theology I was ordained a priest on January 1, 1975 to serve as a missionary at the Diocese of Thiruvalla.

In 1978 while teaching at the St. Thomas minor seminary in Bathery, I became an active member of the Charismatic Renewal movement and began conducting charismatic retreats and conferences in Kerala.

On Sunday April 14, 1985, the Feast of the Divine Mercy, I was going to celebrate Mass at a mission church in the north part of Kerala, and I had a fatal accident. I was riding a motorcycle when I was hit head-on by a jeep driven by a man who was intoxicated after a Hindu festival. I was rushed to a hospital about 35 miles away. On the way my soul came out from my body and I experienced death. Immediately I met my Guardian angel. I saw my body and the people who were carrying me to the hospital. I heard them crying and praying for me. At this time my angel told me: “I am going to take you to Heaven, the Lord wants to meet you and talk with you”. He also said that on the way he wanted to show me hell and purgatory.

First, the angel escorted me to hell. It was an awful sight! I saw Satan and the devils, an unquenchable fire of about 2,000 Fahrenheit degrees, worms crawling, people screaming and fighting, others being tortured by demons. The angel told me that all these sufferings were due to unrepented mortal sins. Then, I understood that there are seven degrees of suffering or levels according to the number and kinds of mortal sins committed in their earthly lives. The souls looked very ugly, cruel and horrific. It was a fearful experience. I saw people whom I knew but I am not allowed to reveal their identities. The sins that convicted them were mai nly abortion, homosexuality, euthanasia, hatefulness, unforgiveness and sacrilege. The angel told me that if they had repented they would have avoided hell and gone instead to purgatory. I also understood that some people who repent from these sins might be purified on earth through their sufferings. This way they can avoid purgatory and go straight to heaven.

I was surprised when I saw in hell even Priests and Bishops, some of whom I never expected to see. Many of them were there because they had misled the people with false teaching and bad example.

After the visit to hell, my Guardian angel escorted me to Purgatory. Here too, there are seven degrees of suffering and unquenchable fire. But it is far less intense than hell and there was neither quarreling nor fighting. The mai n suffering of these souls is their separation from God. Some of those who are in Purgatory committed numerous mortal sins; but they were reconciled with God before their death. Even though these souls are suffering, they enjoy peace and the knowledge that one day they will see God face to face.

I had a chance to communicate with the souls in Purgatory. They asked me to pray for them and to tell the people to pray for them as well, so they can go to heaven quickly. When we pray for these souls we will receive their gratitude through their prayers and once they enter heaven their prayers become even more meritorious.

It is difficult for me to describe how beautiful my Guardian angel is. He is radiant and bright. He is my constant companion and helps me in all my ministries, especially my healing ministry. I experience his presence everywhere I go and I am grateful for his protection in my daily life.

Next, my angel escorted me to heaven passing through a big dazzling white tunnel. I never experienced this much peace and joy in my life. Then immediately the heaven opened up and I heard the most delightful music, which I never heard before. The angels were singing and praising God. I saw all the saints, especially the Blessed Mother and St. Joseph , and many dedicated holy Bishops and Priests who were shining like stars. And when I appeared before the Lord, Jesus told me: “I want you to go back to the world. In your second life you will be an instrument of peace and healing to my people. You will walk in a foreign land and you will speak in a foreign t ong ue. Everything is possible for you with my grace”. After these words, the Blessed Mother told me: “Do whatever He tells you. I will help you in your ministries”.

Words can not express the beauty of heaven. There we find so much peace and happiness, which exceed a million times our imagination. Our Lord is far more beautiful than any image can convey. His face is radiant and luminous and more beautiful than a thousand rising suns. The pictures we see in the world are only a shadow of His magnificence. The Blessed Mother was next to Jesus; she was so beautiful and radiant. None of the images we see in this world can compare with her real beauty. Heaven is our real home, we are all created to reach heaven and enjoy God forever. Then, I came back to the world with my angel.

While my body was at the hospital, the doctor completed all examinations and I was pronounced dead. The cause of death was bleeding. My family was notified and since they were far away, the hospital staff decided to move my dead body to the morgue. Because the hospital did not have air conditioners they were concerned that the body would decompose quickly. As they were moving my dead body to the morgue, my soul came back to the body. I felt an excruciating pain because of so many wounds and broken bones. I began to scream and then the people became frightened and ran away screaming. One of them approached the doctor and said: “the dead body is screaming”. The doctor came to examine the body and found that I was alive. So he said: “Father is alive, it is a miracle, take him back to the hospital”.

Now, back at the hospital, they gave me blood transfusions and I was taken to surgery to repair the broken bones. They worked on my lower jaw, ribs, pelvic bone, wrists, and right leg. After two months, I was released from the hospital, but my orthopedic doctor said that I would never walk again. I then said to him: “ the Lord who gave me my life back and sent me back to the world will heal me”. Once at home we were all praying for a miracle. Still after a month and with the casts removed I was not able to move. But one day while praying I felt an extraordinary pain in my pelvic area. After a short while the pain disappeared completely and I heard a voice saying: “You are healed. Get up and walk”. I felt the peace and healing power on my body. I immediately got up and walked. I praised and thanked God for the miracle.

I reached my doctor with the news of my healing and he was amazed. He said: “your God is the true God. I must follow your God”. The doctor was Hindu and he asked me to teach him about our Church. After studying the faith, I baptized him and he became Catholic.

Following the message from my Guardian angel, I came to the United States on November 10, 1986 as a missionary Priest. First, I worked in the Diocese of Boise , Idaho from 1987 to 1989 and then became the Director of Prison Ministry in the Diocese of Orlando , Florida from 1989 to 1992.

In 1992, I came to the Diocese of St. Augustine where I was first assigned to St. Matthew's Parish in Jacksonville for two years. I was then appointed Parochial Vicar of Assumption Church from 1994 to 1999. In 1997 I was incardinated as a permanent member of the Diocese. Since June 1999, I have been pastor of St. Mary's Mother of Mercy Catholic Church in Macclenny , Florida . I also serve as the Catholic Chaplain for Florida State Prison in Starke, Union Correctional Institution in Raiford and Northeast Florida State Hospital in Macclenny. I am also the Diocesan Spiritual Director of the Legion of Mary.

On the first Saturday of each month I conduct a Eucharistic and charismatic-healing ministry in my Parish, St. Mary Mother of Mercy. People come from all over the diocese, many parts of Florida and even from out of the state. I have been invited to conduct the healing ministry in other major cities of the United States including: New York, Philadelphia, Washington DC, San Jose, Dallas, Chicago, Birmingham, Denver, Boise, Idaho Falls, Hawaii, Miami, Ft. Lauderdale, Poolsville; and many other countries: Ireland, Spain, Czech Republic, India, France, Portugal, Yugoslavia, Italy, Canada, Mexico, Cayman Island, and Ontario.

Through this Eucharistic-healing ministry I have seen many people healed physically, spiritually, mentally and emotionally. People with various illnesses such as: cancer, AIDs, arthritis, heart conditions, eye problems, emphysema, asthma, back pains, bad hearing and many others have been healed completely.

In addition, several times during the year I conduct a special healing service for the healing of the family tree, in which the effects from ancestral sins are blocked and the person receives complete healing. Scripture says that the effects from family sins can linger around for three to five generations (Exodus Chapter 34 verse 7). So, in many cases we need generational healing. Doctors and medicines do not help to heal certain sicknesses caused by our family tree.

During the Healing ministry, many people rest in the spirit before the Blessed Sacrament and some experience renewal of the soul and healing of the body.


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Thánh Phaolô nhắn nhủ các tín hữu thành Roma, "Không ai được sống cho mình và cũng không ai được chết cho mình. Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa; nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa" (Rm 14:7-8)
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Cầu cho các linh hồn mồ côi và xin Chúa giúp chúng ta tránh xa tội lỗi.
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Con Cần Chúa

Tôi chối từ Thiên Chúa,
Thiên Chúa vẫn hiện diện. Vì Ngài là Thiên Chúa.
Thiên Chúa không cần tôi chứng minh có Thiên Chúa.
Thiên Chúa cũng không cần kẻ khác chứng minh cho tôi biết về Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa thì không cần chứng minh.
Như mặt trời không cần ai chứng minh về ánh sáng cho người mù.
Như người dưới căn hầm, mặt trời không hiện diện với đôi mắt ấy mà thôi, mặt trời vẫn hiện diện với vũ trụ.

Luyện Ngục Qua Cảm Nghiệm Của Hai Vị Thánh

Luyện Ngục Qua Cảm Nghiệm Của Hai Vị Thánh

Trích trong tác phẩm The Holy Souls, của Lm Alessio Parente
Kim Hà dịch thuật

Một buổi tối vào năm 1921 hay 1922, khi các linh mục và tu sĩ Dòng Phanxicô đang ăn cơm tối thì Cha Padre Pio cầu nguyện trong nhà nguyện. Ngài thường không ăn tối mà lại chọn việc cầu nguyện. Sau đó, ngài mới cùng với các tu sĩ khác sưởi ấm nơi lò sưởi.

Nơi nhà nguyện, thình lình, ngài nghe một tiếng động từ phía bàn thờ. Cha Padre Pio bèn lắng tai nghe để biết chắc rằng mình không tưởng tượng. Bỗng nhiên một tiếng động khác nổi lên, đó là tiếng của các cây đèn nến rớt từ bàn thờ xuống, làm phá vỡ sự thinh lặng. Thoạt đầu, cha Padre Pio ngỡ rằng chắc là một tu sinh nào đó đi ngang qua mà làm cho các cây đèn nến đổ vỡ. Để biết chắc, ngài liền dựa đầu vào ban công của khu ca đoàn để nhìn kỹ hơn. Ngài ngạc nhiên khi thấy một tu sinh trẻ đang đứng lặng lẽ bên bàn thờ.

Chuỗi Hạt Mân Côi Với Linh Hồn Luyện Ngục

Chuỗi Hạt Mân Côi Với Linh Hồn Luyện Ngục






Câu truyện hết sức ly kỳ rùng rợn. Ai nghe cũng phải ngạc nhiên, sợ hãi. Sau ngày chế độ miền Nam sụp đổ, tình trạng giáo dân hết sức hoang mang. Có những câu tục ngữ tự nhiên phát sinh làm cho đa số người Công Giáo càng lo âu sợ hãi. Chẳng hạn ở vùng ngã ba Ông Tạ, Phú Nhuận, có kẻ vô ý thức nào đó đã viết trên tường: “Hỡi Bà Maria! Bà nói: Trái Tim Bà sẽ thắng, bây giờ ai thắng Bà!” Họ chẳng hiểu sự thắng bại như thế nào? Sự sụp đổ cả một chế độ vững mạnh ở Liên Xô chứng minh điều đó. Ai thắng ai?Những ngày ấy, các nhà thờ không còn được làm lễ công khai ban ngày mà phải làm thật sớm hoặc ban đêm, để dân phải đi lao động xã hội chủ nghĩa.

Luyện ngục là một nơi và là một tình trạng thanh tẩy tạm thời mà nhiều linh hồn phải chịu phạt ở đó

LUYỆN NGỤC Ở ÐÂU?


* Kinh Thánh không nói rõ Luyện ngục ở đâu, nhưng chắc chắn phải có một nơi nào đó để giam giữ các linh hồn cần thanh tẩy trước khi vào Thiên đàng.

* Giáo hội dạy: "Luyện ngục là một nơi và là một tình trạng thanh tẩy tạm thời mà nhiều linh hồn phải chịu phạt ở đó" (FCD p.482).

CHỨNG TÍCH VỀ LUYỆN NGỤC

LỄ CÁC LINH HỒN
Theo truyền thống của người dân Hoa Kỳ, hằng năm, vào bi tối ngày 31 tháng 10 dương lịch, trẻ nhỏ rủ nhau chơi “Đêm Halloween” cũng gọi là trò “Trick Or Treat”, các em từng tóp mang mặt nạ, đến gõ cửa  mỗi nhà và nói “Trick or Treat” (cho chúng tôi quà bằng không chúng tôi sẽ phá phách)…Trò chơi này làm cho chúng ta có cảm tưởng như là các linh hồn của những người ở thế giới bên kia hiện về xin bố thí hoặc nhắn nhủ điều gì đó cho những người còn sống trên trần gian.
Tục lệ tối Halloween nầy là dấu vết thời xa xưa còn sót lại của người La-mã dùng để tưởng nhớ người quá cố. Thuở ấy người La-mã có thói quen đúc mặt nạ của người thân mới qua đời để cất làm kỷ niệm. Mỗi khi trong gia đình có người chết thì người nhà phải mang tất cả các mặt nạ hiện có trong gia đình , sắp hàng dài đi trước quan tài, để dẫn đưa người vừa quá cố tới nơi an nghỉ cuối cùng.

Tin Nơi Thiên Chúa Quan Phòng Trong Cuộc Sống Kinh Tế Bấp Bênh

Tin Nơi Thiên Chúa Quan Phòng Trong Cuộc Sống Kinh Tế Bấp Bênh

http://daminhvn.net/tulieubaiviet/hinhanh/minhhoa/heart2.jpg

§ Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Sara và Giovanni là đôi vợ chồng trẻ Công Giáo người Ý có 3 con và đang đợi đứa con thứ tư. Điều đáng nói là Giovanni bị mất việc liên miên. Thế nhưng chuyện mất việc rồi tìm được việc làm với giao-kèo có thời hạn không làm lung lay tình yêu của đôi vợ chồng trẻ. Họ sẵn sàng thắt lưng buộc bụng tiếp tục thẳng tiến và đặt niềm tin tưởng nơi Tình Yêu THIÊN CHÚA Quan Phòng. Xin nhường lời cho đôi bạn trẻ.

Chị Sara. Chúng tôi lấy nhau được 10 năm và có 3 con. Ngay thời đính hôn chúng tôi đã hiểu rõ: điều quan trọng trong cuộc sống tín hữu Công Giáo chính là thi hành Thánh ý THIÊN CHÚA. Chúng tôi quyết định đi đến hôn nhân khi biết rằng chúng tôi là đôi bạn được tuyển chọn để trở nên vợ chồng, mặc dầu lúc ấy chúng tôi vẫn còn trắng tay, nhà cửa chưa có, tiền bạc ít ỏi, việc làm không ổn định. Nhưng chúng tôi không nao núng. Thế rồi ngay sau lễ thành hôn chúng tôi thuê được căn nhà và có việc làm, dù chỉ là việc làm ngắn hạn.

Anh Giovanni. Khi quyết định chọn ngày làm lễ thành hôn chúng tôi không lưu ý đến khía cạnh tiện-lợi hợp-lý cho bằng ý thức sâu xa rằng chính THIÊN CHÚA gọi chúng tôi vào cuộc sống hôn nhân. Bổn phận chúng tôi là đáp lại Tiếng Gọi và đặt tin tưởng hoàn toàn nơi sự quan phòng của Ngài. Và thực tế đã xảy ra như vậy. Chính THIÊN CHÚA lo liệu tất cả, ngay cả những chuyện xem ra có vẽ khó thực hiện nhất. Ơn lành đầu tiên Ngài ban cho chúng tôi ngay trong thời gian 11 tháng đính hôn là niềm an bình sâu xa. Tiếp đến là thi ra trường, có việc làm, có nhà ở và tổ chức lễ hôn phối cùng tiệc mừng đám cưới.

Chị Sara. Chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn về phương diện tài chánh. Một trong những điểm tiêu cực nhất là Giovanni mất việc. Và cứ mỗi lần chàng mất việc thì lại là lúc tôi mang thai. Lần mất việc thứ nhất xảy ra ngay tháng đầu tiên chúng tôi vừa lấy nhau. Ông chủ biết rõ chúng tôi mới làm đám cưới nhưng ông ngoảnh mặt làm ngơ. Rồi chàng tìm được việc làm khác nhưng trong thời gian làm thử thì đã bị từ chối. Thế là chàng thất nghiệp nằm nhà trong khi tôi mang thai đứa con đầu lòng và chỉ quanh quẩn trong nhà với công việc nội trợ.

Thế nhưng chúng tôi không đầu hàng. Chúng tôi bắt đầu cầu nguyện với trọn lòng tin tưởng. Và THIÊN CHÚA đáp lời. Sau một tháng nghỉ việc Giovanni tìm được việc làm mới với giao kèo tạm thời. Tưởng rằng sẽ được gia hạn và bền lâu. Nào ngờ chỉ kéo dài vỏn vẹn 5 năm. Trong thời gian này chúng tôi cho ra chào đời hai bé trai với tên gọi Francesco và Benedetto. Vào lúc chàng nhận tin sẽ bị mất việc thì tôi đang mang thai bé gái Serena. Và đối với chúng tôi thì Serena quả thật là phép lành của THIÊN CHÚA. Bởi vì nhờ lý do tôi đang mang thai đứa con thứ ba mà ông chủ cho Giovanni kéo dài thời gian làm việc thêm 7 tháng cho đến khi tìm được việc làm khác.

Người ta tự hỏi làm thế nào chúng tôi có thể vượt thắng các thử thách này??? Tôi xin phép trả lời. Cái “bấp-bênh kinh-tế” của gia đình thật là một thánh giá. Vì thế cần phải giữ vững niềm tin cậy và thương mến lẫn nhau. Nếu vì chuyện người chồng bị mất việc đưa gia đình vào tình trạng tài chánh khó khăn mà người vợ ngừng tin tưởng và quý mến chồng thì coi như gia đình sẽ gặp khủng hoảng và đưa đến tan vỡ chia lìa. Trong trường hợp của chúng tôi thì không xảy ra điều đáng tiếc. Bởi lẽ, chính nhờ Chúa để chúng tôi trải qua kinh nghiệm đắng cay về chuyện hai vợ chồng chỉ sống với một đồng lương và một đồng lương “bấp-bênh” đó đã giúp chúng tôi cảm nghiệm thế nào là mối hiệp nhất và tình yêu vợ chồng chân thật. Chúng tôi càng khắn khít với nhau hơn và nhất là lòng tin tưởng chúng tôi đặt nơi THIÊN CHÚA Quan Phòng càng sâu xa và vững mạnh hơn.

Tiếp đến chúng tôi không bao giờ quên hồng ân sự sống THIÊN CHÚA ban cho: ba đứa con là niềm vui lớn lao của chúng tôi. Sự hiện diện của các con giúp chúng tôi biết hy sinh, biết sống “thắt lưng buộc bụng” và hoàn toàn phấn khởi cùng nhau xây dựng tương lai cho các con.

Anh Giovanni. Sự kiện tôi bị mất việc đưa gia đình vào cảnh lo âu đã cho tôi kinh nghiệm chua xót về cái bấp bênh kinh tế. Cùng lúc tôi không bao giờ đánh mất niềm tin nơi THIÊN CHÚA Quan Phòng, ở thời kỳ đính hôn và suốt trong thời gian thành vợ thành chồng .. Thật ra không thiếu người chê bai và chỉ trích chúng tôi là vô trách nhiệm, sống ngu-ngơ chờ bánh manna từ trời rơi xuống tức là hả miệng chờ sung rụng!!! Đó là miệng lưỡi người đời muốn nói gì thì nói!!! Phần chúng tôi, chúng tôi cố gắng tối đa và hiểu rõ rằng THIÊN CHÚA không bao giờ bỏ rơi con cái Ngài trong cơn khốn cùng.

Chị Sara kết thúc. Hiện tại tôi mang thai đứa con thứ tư và chồng tôi một lần nữa lại đổi việc làm. Các con chúng tôi biết rõ chỉ mình Ba làm việc còn Má ở nhà lo việc gia đình. Nhờ thế chúng tôi có thể giáo dục con cái sống thanh đạm, biết chia sẻ và không ích kỷ. Chúng luôn luôn chơi chung với nhau và yêu thương bảo bọc nhau.

... “Suy nghĩ lo toan là việc của con người, còn nói câu trả lời là do THIÊN CHÚA. Con người cho lối sống của mình là trong sáng, nhưng THIÊN CHÚA thấu suốt mọi tâm can. Hãy ký thác việc bạn làm cho THIÊN CHÚA, dự tính của bạn ắt sẽ thành công. Mọi việc THIÊN CHÚA làm đều có cùng đích riêng .. Nhờ nhân nghĩa tín thành mà tội được xóa bỏ, nhờ kính sợ THIÊN CHÚA mà tránh được sự dữ. Khi THIÊN CHÚA hài lòng về lối sống của ai Người khiến cả quân thù cũng làm hòa với kẻ ấy. Thà ít của cải mà sống công chính hơn nhiều huê lợi mà thiếu công minh. Tâm trí con người nghĩ ra đường lối, còn THIÊN CHÚA hướng dẫn từng bước đi” (Sách Châm Ngôn 16,1-9).

(NOI Genitori & Figli, Mensile di vita familiare, Supplemento ad Avvenire del 27 Settembre 2009, n.133, Anno XIII, trang 17-18)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 21/01/2010




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Cầu cho các linh hồn mồ côi và xin Chúa giúp chúng ta tránh xa tội lỗi.

Chết Là Đi Vào Cuộc Sống Vĩnh Cửu

Chết Là Đi Vào Cuộc Sống Vĩnh Cửu

§ Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Ngày 22-9-2004 ông William Wright êm ái trút hơi thở cuối cùng hưởng dương hơn 40 tuổi. Ông ra đi để lại vợ trẻ với 3 con trai tuổi từ 6 đến 10. Ông bị chứng ung thư làm cho tứ chi bất toại. Ông là tín hữu tin lành người Mỹ nhưng hiền thê ông - bà Valérie người Pháp - là tín hữu Công Giáo. Cả hai vợ chồng và 3 đứa con sống tại Pháp.

Thử thách của bệnh tật đã liên kết 2 vợ chồng thật khắng khít trong cùng Đức Tin vào Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Đặc biệt, bà Valérie rất có lòng kính mến Đức Mẹ MARIA. Chính lòng kính mến Đức Mẹ giúp bà đứng vững trong đau thương và cùng chồng kiên trì trong hy vọng, một niềm hy vọng vượt lên trên mọi hy vọng.

Một thời gian ngắn sau khi hiền phu qua đời, bà Valérie Radenne-Wright gởi cho Linh Mục Chủ Nhiệm tờ Lộ-Đức lá thư cảm động sau đây.

Sau khi quyết liệt chống cự cùng chứng ung thư quái ác trong vòng 15 tháng, chống cự với trọn nhiệt huyết, khẳng khái, can đảm và trong vui tươi hóm hỉnh, William chồng con đã vĩnh viễn trở về Nhà CHA trên Trời.

Chúng con đã hiệp sức cầu nguyện thật nhiều cho anh cùng với nhiều người trên khắp thế giới, không phân biệt tôn giáo. Chúng con tha thiết xin THIÊN CHÚA Toàn Năng gìn giữ anh luôn luôn can đảm với nụ cười, với tính hài hước, với sức mạnh không lay chuyển trong việc chấp nhận bệnh tật nhưng không đầu hàng trước sức tàn phá của chứng ung thư quái ác ..

Chúng con là đôi vợ chồng trẻ tâm đồng ý hợp, đồng tâm nhất trí. Lòng bên lòng, tay trong tay chúng con nương tựa vào nhau để tiến bước. Nếu một trong hai người nản chí muốn buông xuôi thì người này dùng trọn sức lực để khuyến khích người kia can đảm chiến đấu, sẵn sàng đương đầu với nghịch cảnh, không chùn bước.

2 ngày trước khi về cùng THIÊN CHÚA, William sốt sắng lãnh bí tích xức dầu bệnh nhân. Vài giờ trước khi tắt thở, chàng cùng con đọc chung kinh Lạy Cha. William luôn giữ vững Đức Tin sống động. Chàng xin con - vào ngày diễn ra đám tang chàng - đừng mặc áo màu đen buồn thảm nhưng hãy chọn y phục có màu sắc tươi vui và hãy nở nụ cười. Hãy tiếp tục sống, cùng với chàng, nhưng dưới một hình thức khác.

William cũng âu yếm dặn dò con phải tỏ ra cứng rắn đối với 3 đứa con trai hầu cho cái chết của chàng không phải là lý do khiến chúng buông xuôi. Dĩ nhiên con hứa làm theo tất cả những lời chàng khuyên nhủ. Đặc biệt con sẽ sống sẽ mĩm cười và sẽ mãi mãi tiếp tục yêu chàng. Con sẽ để chàng tham dự vào cuộc sống hàng ngày của 4 mẹ con con cũng như cùng chàng hoạch thảo mọi dự tính tương lai. Con sẽ tự săn sóc sức khoẻ để có đủ sức chăm sóc các con và để chúng có thể vững vàng nương tựa vào con và không bao giờ quên bóng hình thân yêu của thân phụ chúng.

Xin Cha vui lòng cầu nguyện cho người chồng quá cố của con và xin THIÊN CHÚA ban sức mạnh cho 3 đứa con trai của chúng con: Alexander 10 tuổi, Adrian 9 tuổi và Andrew 6 tuổi. Cầu cho các con con tiếp tục sống mà không có sự hiện diện của Ba chúng. Xin Cha cũng làm ơn cầu nguyện cho con nữa bởi lẽ con đau khổ vô cùng. Con thật buồn khi thấy William còn trẻ và quá đau đớn trước khi chết. Nguyện xin THIÊN CHÚA Nhân Lành - qua lời chuyển cầu của Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA và thánh nữ Teresa Hài Đồng GIÊSU - ban cho con sức mạnh đi tiếp con đường góa bụa vắng bóng chàng.

Trong vòng 20 năm - kể từ ngày con hân hạnh quen biết chàng và sau đó chung sống đời vợ chồng - William dạy cho con biết nhiều điều. Trước tiên, cuộc sống luôn bao gồm 2 mặt phải trái buồn vui lẫn lộn. Hạnh phúc và đau khổ. Khó khăn để thắng vượt và thử thách để chấp nhận. Tuy nhiên phải luôn biết tận hưởng khuôn mặt tích cực của cuộc sống bắt đầu từ những niềm vui thật đơn sơ thật bé nhỏ. Sau cùng, William để lại nơi con chứng tá cuộc sống tràn đầy hy vọng. Cái chết là một phần của cuộc sống. Chết là đi vào cuộc sống vĩnh cửu. William tiếp tục ở cạnh con, nhưng ở mặt bên kia của cuộc sống.

Xin hiệp thông sâu xa trong kinh nguyện.

Ký tên. Valérie Radenne-Wright.

... “Anh chị em hãy vui luôn trong niềm vui của THIÊN CHÚA. Tôi nhằc lại: vui lên anh chị em! Sao cho mọi người thấy anh chị em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến. Anh chị em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh chị em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giãi bày trước mặt THIÊN CHÚA những điều anh chị em thỉnh nguyện. Và bình an của THIÊN CHÚA, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh chị em được kết hợp với Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Ngoài ra, thưa anh chị em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh chị em hãy để ý. Những gì anh chị em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và THIÊN CHÚA là nguồn bình an sẽ ở với anh chị em” (Philipphê 4,4-9).

(“LOURDES magazine”, n.8, Dicembre/2004-Gennaio/2005, trang 2-3)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 24/09/2009



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Xin Cứu Chúng Con Thoát Nạn Cộng Sản Vô Thần

Xin Cứu Chúng Con Thoát Nạn Cộng Sản Vô Thần

§ Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Chứng từ của một đan sĩ thuộc đan viện Cát-Minh ở Flavigny-sur-Ozerain, nước Pháp.

BrownScapular1.jpg

... Có người bĩu môi chê rằng việc mang Áo Đức Bà Núi Camêlô là một hình thức mê tín dị đoan. Họ cho rằng tín hữu Công Giáo khi mang trên mình Áo Đức Bà chỉ thực hành một việc đạo đức thuần túy bề ngoài, không ăn nhập gì với đời sống nội tâm, chẳng hạn như phải sống trong ơn thánh Chúa và phải có nhiều nhân đức đáng chú ý v.v.

Tôi xin đáp lại luận cứ trên đây bằng chính lời giải thích của thánh Louis-Marie Grignion de Montfort (1673-1716) nói rằng: “Các việc đạo đức bề ngoài nếu được thi hành với trọn lòng sốt sắng thì giúp ích rất nhiều cho đời sống nội tâm. Bởi vì, các việc đạo đức bề ngoài nhắc tín hữu nhớ đến những việc mình đang làm hoặc phải làm. Con người thường hành xử qua các giác quan như cách nhìn, lối nói, điệu bộ đi đứng v.v. Thêm vào đó các việc đạo đức bề ngoài củng cố Đức Tin người chung quanh khi họ chứng kiến các việc đạo đức một người làm. Đây là điểm thuận lợi khác với các việc đạo đức thuần túy thiêng liêng diễn ra bên trong mỗi người”.

Nếu có ai vặn lại với dụng ý chỉ trích và rêu rao rằng: “Lòng đạo đức thật hệ tại nơi tâm lòng vì thế nên tránh mọi hình thức bề ngoài để khỏi rơi vào cạm bẫy phù vân. Phương thế tốt nhất là che kín lòng đạo đức v.v”. Đối với các lý lẽ này tôi xin dùng chính lời Đức Chúa GIÊSU phán rằng: “Ánh sáng của anh chị em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ trông thấy những công việc tốt đẹp anh chị em làm mà tôn vinh CHA của anh chị em, Đấng ngự trên trời” Mátthêu chương 5 câu 16.

Thật ra chúng ta không bao giờ nên làm các việc đạo đức bề ngoài với mục đích lôi kéo sự chú ý của người đời khiến họ lên tiếng ca tụng chúng ta. Không, chúng ta không nên làm thế vì đó là phù du giả trá. Tuy nhiên đôi khi chúng ta cần phải làm các việc đạo đức bề ngoài trước mặt người khác, với mục đích duy nhất là làm đẹp lòng THIÊN CHÚA và để tôn vinh Ngài, mà bất cần chú ý đến sự xét đoán của người đời: hoặc bị chế nhạo hoặc được chúc tụng ..

Cũng chính Thánh Louis-Marie Grignion de Montfort giải thích thêm rằng:

- Một trong những lý do khiến các tín hữu Công Giáo ít nhớ đến lời hứa của bí tích Rửa Tội và sống như thể họ chả có ràng buộc nào đối với THIÊN CHÚA, hoặc sống như kẻ ngoại giáo, đó là vì các tín hữu không mang trên mình một dấu hiệu đạo đức nào khả dĩ giúp họ nhớ mình là con cái THIÊN CHÚA và phải sống đúng với tư cách là tín hữu Công Giáo!

Cũng vẫn có người ngoan cố cãi lại rằng: Áo Đức Bà Núi Camêlô là một loại “bùa-hộ-mệnh” rẻ tiền. Ai mang Áo này thì khỏi cần sống thánh thiện và tuân giữ các giới răn của THIÊN CHÚA .. Nói cách khác, kẻ tội lỗi khi mang Áo Đức Bà trên mình có thể cảm thấy mình được che chở nên có thể tự do phạm đủ các thứ tội vì tự nhủ: “Mình mang Áo Đức Bà Núi Camêlô tức là mình chắc chắn được cứu rỗi, không sợ bị trầm luân đời đời trong hỏa ngục!”

Dĩ nhiên người nào lý luận như thế thì thật là lầm lạc. Bởi vì họ là kẻ lạm dụng lòng sùng kính đối với Đức Mẹ MARIA và chẳng được hưởng ơn phúc nào do việc mang Áo Đức Bà Núi Camêlô mang lại. Nếu ai có những ý tưởng lạm dụng như thế thì đừng nên mang Áo Đức Bà trên mình thì tốt hơn. Bởi vì thánh Phaolô Tông đồ nhắc nhở các tín hữu Ga-lát rằng: “Anh em đừng có lầm tưởng: THIÊN CHÚA không để cho người ta nhạo báng đâu! Thật vậy, ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy” (6,7).

.. Sau đây là sự tích Áo Đức Bà Núi Camêlô. Đức Mẹ MARIA hiện ra với thánh Simon Stock (+1265), tay cầm Bộ Áo của Dòng và nói:

- Bộ Áo này sẽ là đặc ân dành cho con và cho tất cả tu sĩ dòng Cát-Minh. Tu sĩ nào khi chết mà đang mang Áo này thì sẽ không bị rơi vào lửa đời đời, nhưng sẽ được cứu thoát .. Ngoài ra, ai sốt sắng mang Áo này và mỗi ngày đọc 3 Kinh Kính Mừng cùng cẩn trọng giữ mình trong sạch đúng theo bậc sống của mình, thì khi chết, sẽ được Mẹ sớm cứu thoát ra khỏi Lửa Luyện Hình vào mỗi ngày Thứ Bảy.

Trong một lần hiện ra khác Đức Mẹ nói: Áo Đức Bà Carmêlô là dấu chứng sự bảo trợ của Mẹ. Hãy luôn luôn mang Áo Đức Bà trong người. Áo Đức Bà sẽ giúp các con làm điều thiện bởi vì Áo này là dấu chứng tình yêu của Mẹ và Áo sẽ thường xuyên nhắc các con nhớ đến sự hiện diện của Mẹ. Đó cũng là mục đích của tất cả các á-bí-tích, bởi vì các á-bí-tích nhắc nhở sự hiện diện của Người mà chúng gợi lên và giúp các con bắt chước các nhân đức của Người đó. Trong số các á-bí-tích thì Áo Đức Bà Cát-Minh và Tràng Chuỗi Mân Côi là hai á-bí-tích quan trọng nhất; và hai vật đạo đức này mang lại cho các con nhiều sự bảo trợ nhất. Mẹ đặc biệt ước ao mọi con cái Mẹ đều mang Áo Đức Bà núi Cát-Minh trong người. Áo Đức Bà sẽ giúp các con mỗi ngày một yêu mến Đức Chúa GIÊSU nhiều hơn. Đây là một phương thế đơn sơ giản dị, Chúa dùng để cứu giúp các con cái của Ngài. Vậy các con hãy luôn luôn mang Áo Đức Bà trong mình và sốt sắng lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày, nếu có thể được thì lần trọn chuỗi 150.

... Kinh dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ MARIA Vô Nhiễm Nguyên Tội

Lạy Mẹ MARIA Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con toàn thể giáo hữu Việt Nam hết lòng tin cậy chạy đến cùng Mẹ.

Mẹ là Mẹ THIÊN CHÚA, là Mẹ chúng con, Mẹ là Nữ Vương Toàn Năng, là Đấng bầu cử cho chúng con trước tòa Chúa. Biết bao nhiêu lần, Mẹ đã cứu vãn Giáo Hội, và các dân tộc trong cơn nguy biến.

Chúng con hết lòng thành kính hiến dâng Giáo Hội và tổ quốc Việt Nam cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Để thực hành mệnh lệnh của Mẹ, và để nhờ Mẹ che chở phù trì, ngày nay và mãi mãi.

Xin Mẹ gìn giữ Giáo Hội Việt Nam. Xin Mẹ soi sáng hàng Giáo Phẩm, dìu dắt và thánh hóa các Linh Mục. Xin Mẹ giúp sức cho toàn thể giáo dân được trung thành giữ luật Chúa, và sốt sắng làm việc tông đồ. Xin Mẹ nâng đỡ và ủi an những anh chị em của chúng con, đang phải khốn khó vì Đạo Chúa.

Xin Mẹ chúc lành cho tổ quốc Việt Nam. Xin Mẹ hướng dẫn các nhà lãnh đạo dân tộc, xin Mẹ đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần tất cả các cơ cấu quốc gia, xin Mẹ cho toàn thể dân Việt biết đoàn kết, để cùng nhau xây dựng lại giang sơn.

Nhất là xin Mẹ cứu chúng con thoát nạn Cộng Sản vô thần, để mọi người được sống trong tự do, hòa bình, ngõ hầu Nước Chúa được mở rộng khắp nơi.

Chúng con nguyện muôn đời ghi nhớ ơn Mẹ, và cùng nhau xây dựng một đền thờ hay một công tác nào khác dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, để lưu truyền cho hậu thế ơn che chở đặc biệt của Mẹ.

Lạy Mẹ MARIA Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con thành khẩn kêu đến Mẹ, vì chúng con biết Mẹ sẽ nhậm lời chúng con. Và mặc dầu mọi nỗi khó khăn hiện tại, chúng con tin chắc Trái Tim Mẹ sẽ thắng. AMEN.

(“Ange Gardien”, n. 4, Juillet-Aout/2005, trang 23 + Attilio Borzi, “MARIA nella vita del Giovane”, Edizioni dell'Immacolata, 1993, trang 53-59)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 19/09/2009



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Thiên Chúa Đồng Hành

Thiên Chúa Đồng Hành

§ Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 6 diễn ra tại Czestochowa bên Ba Lan với sự hiện diện của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005) trong 3 ngày từ 14 đến 16-8-1991.

Czestochowa nổi tiếng với Đền Thánh Đức Mẹ Đen Jasna Gora. Ngày Quốc Tế để lại trong tâm hồn người trẻ biết bao ân huệ thiêng liêng không xóa mờ. Nhiều ơn gọi Linh Mục tu sĩ và giáo dân dấn thân trong xã hội triển nở từ Ngày Quốc Tế Giới Trẻ. Sau đây là chứng từ của cô Florence người Pháp. Hiện tại cô là nữ y tá phục vụ nơi bệnh viện.

Mùa hè năm 1991 tôi có mặt trong đám đông vô số người trẻ tham dự Ngày Quốc Tế Giới Trẻ tại Czestochowa. Trong những ngày hồng phúc đáng ghi nhớ ấy, chúng tôi hành hương đi bộ tiến lên Đền Thánh Đức Mẹ Đen - Jasna Gora.

Chúng tôi cùng nhau lần không biết bao nhiêu tràng chuỗi Mân Côi. Tôi cảm thấy như trở nên tốt lành hơn tử tế hơn nhờ sự đồng hành của Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA, Hiền Mẫu Thiên Quốc.

Tối thứ Tư 14-8-1991, chúng tôi có buổi Canh Thức Chầu Mình Thánh Chúa. Hàng ngàn bạn trẻ thay phiên nhau quỳ gối sốt sắng thờ lạy Đức Chúa GIÊSU Thánh Thể. Thật cảm động. Chúng tôi cũng lũ lượt tiến đến các tòa giải tội lãnh Bí Tích Hòa Giải. Sống cùng lúc 2 bí tích Thánh Thể và Hòa Giải quả là kinh nghiệm tuyệt vời, không bao giờ quên.

Sáng thứ Năm 15-8 là lễ trọng Đức Mẹ MARIA Linh Hồn và Xác lên trời. Chúng tôi thức dậy thật sớm chuẩn bị tham dự Thánh Lễ do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cử hành. Thánh Lễ hôm ấy vừa long trọng vừa mang một ý nghĩa sâu xa ghi khắc trong con tim xuân trẻ của tôi. Bởi lẽ tôi vừa xưng tội vào tối hôm qua. Giờ đây tôi đợi đến giờ rước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU với niềm vui thật đặc biệt. Lúc rước lễ xong và tiến về chỗ ngồi, tôi ngạc nhiên cảm kích trước bầu khí thinh lặng của đám đông toàn tòng người trẻ. Một sự thinh lặng thật bao la tràn ngập niềm an bình thư thái. Riêng tôi, tôi cảm nghiệm một sự hiện diện thật êm ái dịu dàng. Đức Mẹ MARIA đang ở cạnh tôi. Đức Mẹ mời gọi tôi tiếp rước Đức Chúa GIÊSU Con Mẹ vào cuộc đời tôi bằng cuộc sống canh tân tinh thần.

Một tháng sau Ngày Quốc Tế Giới Trẻ, tôi bắt đầu chương trình học mới. Dĩ nhiên cuộc sống thiêng liêng của tôi cũng thay đổi. Tôi cầu nguyện đều đặn hơn. Mỗi buổi tối, tôi đọc lại Bài Phúc Âm của Thánh Lễ trong ngày. Nhờ vậy tôi hiểu Lời Chúa là Lời Hằng Sống.

Các bạn tôi ngạc nhiên mỗi lần bất ngờ đến thăm tôi vào buổi tối. Họ trông thấy Cuốn Sách Lễ đang mở ra và đặt nơi đầu giường tôi. Tôi lợi dụng dịp này để nói với các bạn về Đức Tin Công Giáo, về cách thức tôi cầu nguyện, sống Lời Chúa và nhất là, về sự hiện diện dấu ái của Đức Mẹ MARIA, Hiền Mẫu Thiên Quốc trong cuộc đời tôi.

Vài người bạn trở lại thăm tôi sau đó. Chúng tôi bàn luận và trao đổi với nhau về Đức Tin Công Giáo và về phương cách sống Đạo giữa đời.

Thánh Lễ tôi tham dự vào Ngày Quốc Tế Giới Trẻ 15-8-1991 tại Czestochowa khắc sâu trong lòng tôi. Chính vào buổi sáng phúc lành ấy, tôi đã mở rộng cánh cửa và Đức Chúa GIÊSU KITÔ đã bước vào nhà linh hồn tôi. Ngài đến tìm tôi nơi tôi đang sống với trọn con người tôi. Kể từ đó, tôi sống kinh nghiệm Chúa đồng hành trên từng chặng đường tôi đi. Ngài nâng đỡ khuyến khích trong những lúc tôi gặp khó khăn.

Giờ đây khi viết lên chứng từ này lòng tôi tràn ngập niềm tri ân. Tri ân chân thành đối với Tình Yêu vô bờ của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Chính Ngài cho tôi cơ hội thuận tiện để làm chứng về Ngài: trong môi trường nghề nghiệp cũng như nơi gia đình. Tôi hân hoan làm chứng rằng:

- Tình Yêu THIÊN CHÚA trao ban niềm vui và giúp thắng vượt tất cả. Tình Yêu THIÊN CHÚA là sức mạnh và là tất cả đối với tôi.

... “Lạy Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng Cứu Độ thế giới, Chúa đã làm người để trao ban cho chúng con cuộc sống với trọn niềm viên mãn. Xin ở lại với Giáo Hội Chúa cho đến tận cùng thời gian .. Xin Chúa chúc lành cho người trẻ trên toàn thế giới: Xin Chúa tỏ lộ mình ra cho những ai tìm kiếm Chúa. Xin Chúa nâng đỡ những người không tin nơi Chúa .. Chúa đã cho Đức MARIA làm Mẹ chúng con. Nhờ lời cầu bầu của Đức Mẹ, xin cho Ngày Quốc Tế Giới Trẻ trở thành một lễ hội của Đức Tin. AMEN. (Kinh cầu cho Ngày Quốc Tế Giới Trẻ).

(“LOURDES magazine”, n.3 (134), Aprile-Maggio/2005, trang 40)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 17/09/2009



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Hãy Làm Cho Mọi Tâm Hồn Thuộc Về Thiên Chúa

Hãy Làm Cho Mọi Tâm Hồn Thuộc Về Thiên Chúa

§ Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Từ ngày 18 đến 25-7-2009 diễn ra tại Miedzibrodzie bên Ba Lan cuộc gặp gỡ giới trẻ thuộc “Đại Gia Đình Don Orione” với sự tham dự của hơn 100 bạn trẻ. Họ đến từ khắp nước Ba Lan cùng với một số đại diện các bạn trẻ Ý và Bạch Nga. Tuần Lễ Giới Trẻ có chủ đề: “Bạn hãy làm cho không linh hồn nào không có THIÊN CHÚA”.

Chủ đề rút từ khẩu hiệu của vị sáng lập dòng Don Orione là thánh Luigi Orione (1872-1940). Khẩu hiệu nhắc nhở các bạn trẻ Công Giáo tái khám phá ý nghĩa, sức mạnh và vẽ đẹp của cuộc sống cộng đoàn. Thật vậy, khi cùng tham dự vào các sinh hoạt như dạo chơi, thể thao, ca hát và nhất là suy tư cầu nguyện thì các bạn trẻ được nâng đỡ và khuyến khích rất nhiều. Sự nâng đỡ đến từ các Linh Mục Tuyên Úy, các Nữ Tu, các nhà giáo dục và sự khích lệ đến từ các bạn đồng lứa tuổi. Tất cả cùng hướng đến mục đích tối hậu là tìm kiếm và gặp gỡ THIÊN CHÚA. Đúng như thế. Hãy làm cho mọi tâm hồn đều nhận ra sự hiện hữu của THIÊN CHÚA.

Domenico - bạn trẻ tham dự Tuần Lễ Giới Trẻ - cho biết cảm tưởng. Bạn Trẻ phục vụ bạn trẻ. Đó là đặc điểm cuộc gặp gỡ năm 2009 tại Ba Lan. Chính các bạn trẻ giữ vai trò chủ động trong việc tổ chức và điều hành các sinh hoạt. Khung cảnh thơ mộng hùng vĩ của đồi núi bao la trùng trùng điệp điệp gieo vào lòng giới trẻ chúng tôi tâm tình tươi vui và hướng thượng. Ngoài ra, những giây phút dành cho việc suy tư và cầu nguyện thật là thánh thiêng. Tôi hy vọng Tuần Lễ Giới Trẻ trở thành truyền thống tốt đẹp của Đại Gia Đình Don Orione, thể theo nguyện ước của thánh Luigi Orione. Lúc sinh thời thánh nhân thường nói với các cộng sự viên:

- Tôi ký thác linh hồn các bạn trẻ cho anh em. Hãy chú ý cách riêng đến việc huấn luyện luân lý, công giáo và trí thức cho các bạn trẻ.

Basia - bạn trẻ Ba Lan khác - phát biểu. Cuộc Gặp Gỡ các bạn trẻ Công Giáo sống đạo chân thành là một chứng tá vô cùng phong phú về Đức Tin, đặc biệt trong thời đại tục hóa ngày nay. Cuộc Gặp Gỡ mang lại cho cá nhân tôi rất nhiều lợi ích. Tinh thần tôi được bồi bổ nhờ cầu nguyện và thể xác tôi được khoẻ mạnh nhờ các cuộc đi bộ và leo núi. Chúng tôi tha hồ ca hát và nhảy múa. Chiều đến chúng tôi cùng nhau chia sẻ cảm tưởng và kinh nghiệm. Mối tình huynh đệ được nối kết.

Về phần Agata cô thiếu nữ tỏ bày như sau. Sinh hoạt với các bạn trẻ khác giúp tôi thoát ra chính mình, rời khỏi cái thói quen thường ngày và rộng mở con tim cho người khác. Chúng tôi tạo nên mạng lưới tình thân huynh đệ tuyệt vời.

Về phía các vị hữu trách Gia Đình Don Orione, Cha Tuyên Úy Leszek hướng dẫn các bạn trẻ suy tư:

- Các con hãy tự hỏi: đâu là dấu hiệu THIÊN CHÚA tỏ cho tôi biết rằng Ngài gần gũi tôi và Ngài lo liệu quan phòng cho tôi?

Nhờ suy tư như thế, nhiều bạn trẻ khám phá ra dấu hiệu cụ thể minh chứng THIÊN CHÚA yêu thương mỗi người, yêu thương từng người và yêu thương tất cả mọi người. Các bạn trẻ cũng cảm nhận sự gần gũi thân tình của THIÊN CHÚA trong cuộc đời mình.

Kết quả Tuần Lễ các Bạn Trẻ sinh hoạt chung, cùng suy tư và cầu nguyện được tóm gọn trong lời chào từ biệt:

- Hẹn gặp lại nhau vào năm tới. Thế giới này có lẽ sẽ trở nên nghèo nàn hơn nếu chúng ta không may mắn gặp nhau. Tình bác ái của chúng ta sẽ làm cho thế giới phong phú hơn. Xin cảm tạ hồng ân bao la của THIÊN CHÚA Quan Phòng.

... “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ .. Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được THIÊN CHÚA ủi an. Phúc thay ai khao khát nên người công chính, vì họ sẽ được THIÊN CHÚA cho thỏa lòng. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được THIÊN CHÚA xót thương. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy THIÊN CHÚA. Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con THIÊN CHÚA. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh chị em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh chị em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh chị em ở trên Trời thật lớn lao” (Matthêô 5, 5-12).

(“DON ORIONE Oggi”, Rivista mensile della Piccola Opera della Divina Provvidenza - Anno CIV - No 9 - Ottobre 2009, trang 20-21)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 08/01/2010



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Thiên Sứ Gìn Giữ Bạn Trên Khắp Nẻo Đường

Thiên Sứ Gìn Giữ Bạn Trên Khắp Nẻo Đường

§ Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

1. Chứng từ của nữ ký giả Hope Mac Donald.

Năm ấy, chị Marilyn lên 8 còn tôi lên 4. Vào một buổi sáng, cha mẹ đưa chị đến trường như thường lệ. Nhưng một giờ sau, tôi trông thấy cha mẹ bồng chị Marilyn về nhà, mình đầy máu và vết bầm. Cha mẹ tôi đặt chị trên chiếc ghế trường kỷ trong lúc chờ đợi bác sĩ. Khi bác sĩ đến, ông bà kể lại cho bác sĩ nghe diễn tiến tai nạn:

guardian_angel.jpg

- Khi băng qua đường để vào trường, bé Marilyn bất ngờ bị một chiếc xe hất tung lên không rồi rơi xuống vệ đường, lăn mấy vòng đến một cống nước. Chúng tôi bất lực nhìn bé lăn nhanh và chờ đợi bé bị rơi hẳn xuống cống. Không ngờ, khi lăn đến miệng cống, bé Marilyn nằm yên ở đó. Chúng tôi vội vàng chạy đến. Cho đến lúc này đây, chúng tôi vẫn không hiểu được: làm sao bé có thể dừng ngay trên miệng cống, mà không rơi hẳn xuống cống, như đáng lý phải xảy ra, vì bé lăn với một tốc độ thật nhanh??? Quả thật, chúng tôi không thể nào hiểu được!!!”

Cha Mẹ tôi không hiểu, còn chị Marilyn thì lại ngạc nhiên khi thấy Cha Mẹ không hiểu tại sao. Chị tôi đơn sơ nói:

- Ủa, Ba Má không thấy gì hết sao? Ba Má không thấy có một Thiên Thần cao lớn lộng lẫy đứng ngay nơi miệng cống sao? Chính Thiên Thần đưa tay ngăn chặn, không cho con rơi xuống cống!

2. Câu chuyện thứ hai do bà Karen Hills, tín hữu Công Giáo người Mỹ.

Khi đứa con gái lên 7 và đứa con trai lên 9, cả gia đình chúng tôi đi chơi một ngày ngoài trời nơi vùng núi của bang Colorado. Cả hai đứa trẻ nô đùa bên một dòng suối. Bỗng đứa bé trai hét lên kinh hoàng. Vợ chồng chúng tôi quay lại thì thấy đứa bé gái bị rơi xuống dòng nước đang chảy. Bé rơi đầu xuống trước và hai tay bám chặt vào bờ suối. Chồng tôi vội chạy đến và đưa bé ra khỏi nước.

Trên đường về nhà, tôi bồng bé trên tay và thì thầm vào tai bé:

- Mẹ thật hãnh diện về con. Con đã biết can đảm đương đầu với thử thách. Vậy từ nay, mỗi khi gặp khó khăn, con đừng bao giờ .. lùi bước con nhé!

Tôi giảng luân lý cho bé y như một người lớn, bởi lẽ tôi quá vui mừng khi thấy bé thoát hiểm nguy nhờ biết giữ điềm tĩnh! Thế nhưng, bé ngạc nhiên ngước mắt nhìn tôi và nói:

- Bộ Má không thấy là có ba Thiên Thần tí hon đến giúp con sao? Chính các Thiên Thần bảo con bám chặt vào bờ và nhờ đó, con không sợ hãi gì hết!

3. Câu chuyện thứ ba do một phụ nữ Công Giáo người Pháp thuật lại.

Bà Ngoại tôi tên thánh là Maria. Khi tôi còn bé, Ngoại thường nói cho tôi nghe về các Thánh Thiên Thần, đặc biệt là Thánh Thiên Thần Bản Mệnh. Một ngày, Ngoại kể cho tôi nghe câu chuyện có thật đã xảy ra lúc Ngoại còn nhỏ tuổi.

Năm ấy Ngoại lên 6 tuổi. Bác Madeleine hàng xóm đến xin phép Mẹ cho Ngoại theo Bác ra đồng - cho có bạn - trong khi Bác cắt lúa mì. Mẹ đồng ý. Thế là Ngoại theo Bác Madeleine ra đồng với bé Béatrice, bé tí teo, còn nằm trong nôi. Khi đến nơi, Bác Madeleine liền cho bé Béatrice bú. Bác nói:

- Như thế bé Béatrice sẽ ngủ yên, và chúng ta sẽ an tâm làm việc.

Cho bú xong, Bác đặt bé trong nôi, phủ chăn lại rồi đem đặt bé dưới bóng cây mát. Bác và Ngoại làm việc được khoảng một giờ thì bỗng có tiếng cánh chim đập thật lớn, khiến cả hai người cùng ngước mắt nhìn lên. Một con chim khổng lồ - chắc là con chim phượng hoàng - bay lượn trên đầu hai người. Đang đảo qua đảo lại, con chim bỗng bay sà thật nhanh xuống chiếc nôi bé Béatrice đang ngủ. Chim dùng mỏ và các móng vuốt, kẹp bé Béatrice rồi bay lên và mang đi mất hút tận chân trời ..

Bác Madeleine và Ngoại hoàn toàn bất lực nhìn theo bóng chim. Còn đang thất kinh hồn vía ngước nhìn trời cao, bỗng Ngoại nghe một tiếng rú thất thanh, xé tan bầu khí im lặng. Đó là tiếng thét của Bác Madeleine. Bác rú như một người điên. Phần Ngoại, Ngoại liền quỳ xuống và cầu khẩn:

- Ôi lạy Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của con, xin Thánh Thiên Thần cứu giúp chúng con với!

Nghe tiếng Ngoại tha thiết cầu khẩn như thế, lạ lùng thay, Bác Madeleine bỗng lấy lại bình tĩnh. Bác cũng quỳ gối xuống van xin:

- Lạy Thánh Thiên Thần Bản Mệnh, xin cứu giúp chúng con, xin cứu giúp chúng con!

Tức khắc, con chim phượng hoàng tái xuất hiện. Chim bay đảo một vòng trên đầu hai người rồi nhắm thẳng chiếc nôi, chim bay đến và đặt bé Béatrice an toàn trở lại trong nôi.

Bác Madeleine vội vã chạy đến bên nôi, bồng bé Béatrice trên tay và miệng không ngừng kêu lên:

- Con xin cám ơn Chúa, cám ơn các Thánh Thiên Thần.

Trong cơn vui mừng ghi ơn khôn tả, Bác Madeleine chỉ biết lập đi lập lại có thế .. Phần Ngoại, vì được chứng kiến tận mắt một phép lạ cả thể như thế, nên suốt đời, Ngoại luôn luôn đặt trọn lòng tin tưởng nơi sự phù giúp của Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.

Ngoại tôi qua đời năm 1957. Ngoại chết thật êm ả và thật nhanh chóng. Trước đó, Ngoại còn căn dặn Mẹ tôi nhớ chưng hoa tươi trước tượng Thánh Cả GIUSE - vào ngày 19 tháng 3 - lễ kính Thánh Cả.

... Hỡi ai nương tựa Đấng Tối Cao và núp bóng Đấng quyền năng tuyệt đối, hãy thưa với Chúa rằng: “Lạy THIÊN CHÚA, Ngài là nơi con náu ẩn, là đồn lũy chở che, con tin tưởng vào Ngài”. Chính Chúa gìn giữ bạn, khỏi lưới kẻ thù giăng, khỏi tai ương tàn khốc. Chúa phù trì che chở, dưới cánh Ngài, bạn có chỗ ẩn thân: lòng Chúa tín trung là khiên che thuẫn đỡ .. Bạn sẽ không gặp điều ác hại, và tai ương không bén mảng tới nhà, bởi chưng Ngài truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá. Bạn có giẫm lên hùm thiêng rắn độc, đạp nát đầu sư tử khủng long. Chúa phán: “Kẻ gắn bó cùng Ta sẽ được ơn giải thoát, người nhận biết danh Ta sẽ được sức phù trì” (Thánh Vịnh 91).

(Sophy Burnham, “Le Livre des Anges”, Editions Marabout, 1994, trang 62+80) + (”Le Ciel Parmi Nous”, Editions Bénédictines 1997, trang 134-136)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 18/12/2009



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức

Hình Khổ Luyện Ngục Như Thế Nào?

Hình Khổ Luyện Ngục Như Thế Nào?

















Trong Luyện ngục, các linh hồn phải chịu 2 thứ khổ: Khổ vì Lửa khao khát Chúa (pain of loss) và khổ vì Lửa thiêu đốt và các hình khổ khác (pain of sense).

1. Khổ vì tâm hồn khao khát được thấy Chúa, được kết hợp cùng Chúa trên Thiên đàng, đó là nỗi khổ lớn lao nhất, ví như lửa thiêu đốt linh hồn. Lý do vì khi ra trước tòa Chúa phán xét, linh hồn đã thấy Chúa đẹp đẽ, tốt lành, nhân từ đáng mến vô cùng, bây giờ phải xa cách, nên nóng lòng mong ước được thấy lại Chúa đáng mến vô cùng, sự mong mỏi quá sức, làm linh hồn héo hon chờ đợi.

* Thánh Tôma Aquinô xác quyết: "Hình khổ nhỏ mọn nhất trong Luyện ngục cũng vượt quá mọi đau khổ trên trần gian" (Purgatory p. 34).

* Thánh nữ Catarina thành Genova quả quyết: "Lòng ước muốn về gặp Chúa của linh hồn, chính là ngọn lửa cực nóng nảy làm héo hắt và gây đau thương cho các ngài hơn bất cứ thứ lửa thật nào khác".

* Thánh nữ Têrêsa viết trong sách Lâu đài Tâm hồn rằng: "Hình khổ mong thấy Chúa vượt quá mọi hình khổ có thể tưởng tượng, vì linh hồn khao khát thấy Chúa mà còn bị phép Công bằng Chúa giữ lại. Giống như một thủy thủ sau bao chiến đấu với sóng dữ để được vào bờ nhưng lại bị bàn tay vô hình đẩy ra xa bờ bến. Các linh hồn Luyện ngục còn đau khổ gấp ngàn lần người thủy thủ trên" (Purgatory p. 38).

* Năm 1880, một linh hồn kể lại với bà Thánh Mechtilđê rằng, "Tôi không cảm thấy khổ, nhưng tôi không được thấy Chúa, Ðấng mà tôi nhiệt liệt khát khao , mọi sự mong ước của loài người trên trái đất hợp lại cũng không sánh được với sự khát khao của tôi."

2. Khổ thứ hai bị lửa thiêu đốt, để thanh tẩy linh hồn nên thanh sạch, để đền bù các hình phạt tạm chưa đền đầy đủ khi còn sống.

* Thánh Tôma Aquinô viết rằng: "Lửa thiêu đốt các linh hồn trong Hỏa ngục cũng là lửa thiêu các linh hồn trong Luyện ngục. Sự đau đớn nhỏ nhất trong Luyện ngục, cũng là sự đau đớn lớn nhất ở trần gian".

* Thánh nữ Catarina thành Genoa viết rằng:" Linh hồn Luyện ngục phải chịu cực hình quá sức không lời diễn tả, không ý niệm nào giúp cho hiểu dễ dàng một chút, nếu Chúa không giúp cho cách riêng. Không miệng lưỡi nào có thể nói lên, không tâm trí nào có thể tạo nên một ý tưởng đúng về Luyện ngục. Về các đau khổ ở đó, đúng là như trong Hỏa ngục" (Purgatory p. 37).

3. Ngoài hình khổ về lửa thiêu, lại còn có những hình khổ khác:

* Thánh nữ Brigitta thấy có những linh hồn chịu lạnh lẽo giá buốt. Bà Thánh Hedvigê thấy kẻ kiêu ngạo bị ném vào vũng bùn và nơi nhơ nhớp, kẻ không chịu vâng lời phải cúi gò lưng xuống như đang mang đồ nặng, kẻ khác bị thuốc độc như bất tỉnh, kẻ tham ăn bị cơn đói khát cồn cào ruột gan, kẻ phạm tội lỗi trong sạch bị lửa thiêu đốt cháy khét.

* Thánh nữ Mađalena de Pazzi có người anh sống rất đạo hạnh. Sau khi anh chết, bà thánh được thấy anh ở trong Luyện ngục để đền một số tội nhẹ. Bà thấy rất nhiều linh hồn trong Luyện ngục đang chịu các hình khổ, nhưng các ngài vui vẻ chịu đựng. Xúc động bởi đã thấy cảnh tượng rợn rùng, bà vội chạy đến cùng Mẹ Bề trên, qùi gối xuống chân bà, kêu lên: "Lạy Mẹ, cảnh Luyện ngục kinh sợ chừng nào, con không thể tin được, nếu Chúa đã không tỏ cho con...tuy nhiên con không thể gọi là nơi tàn bạo, bởi từ nơi đó các linh hồn được đưa tới Thiên đàng (Purgatory p. 59).

* Thánh nữ Christina sinh tại nước Bỉ vào thế kỷ 12, xác ngài hiện còn giữ tại nhà thờ thành Tronđô do các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế cai quản. Thánh nữ qua đời lúc 32 tuổi, xác được đặt trong nhà thờ, quan tài mở nắp theo phong tục thời ấy, khi sắp đưa đi chôn, thánh nữ đột ngột chỗi dậy trước mặt mọi người hiện diện, kể lại rằng:

"Khi linh hồn tôi vừa ra khỏi xác, thiên thần dẫn tôi tới một nơi u ám đầy dãy các linh hồn. Họ phải chịu các cực hình khốn khổ quá sức, tôi không thể dùng lời nào diễn tả các hình khổ ấy được. Tôi thấy trong số đó có nhiều người tôi đã quen. Tôi rất cảm xúc trước tình trạng buồn khổ của họ. Tôi hỏi thiên thần đây là nơi nào, bởi tôi nghĩ rằng đây là Hỏa ngục, nhưng thiên thần bảo: đây chính là Luyện ngục, nơi các tội nhân bị phạt, bởi trước khi chết họ đã thống hối tội lỗi, nhưng chưa đền tội đủ trước mặt Chúa.

Từ nơi đó tôi được dẫn tới Hỏa ngục, ở đó tôi cũng nhận ra một số người tôi đã quen biết.

Thiên thần lại dẫn tôi vào Thiên đàng, trước tòa Thiên Chúa. Chúa nhìn tôi với mặt nhân từ, tôi rất vui mừng bởi nghĩ rằng mình sẽ được ở lại với Chúa đời đời. Nhưng Cha trên trời thấu suốt lòng tôi, Ngài phán: "Hỡi con cưng của Cha, con sẽ được ở với Cha, nhưng Cha cho con chọn: hoặc ở lại với Cha, hoặc trở về thế gian tiếp tục sứ mạng cứu độ của con qua những hành động bác ái và đau khổ. Ðể cứu các linh hồn Luyện ngục đang đau khổ, con sẽ phải chịu nhiều cực hình, con sẽ đền tội cho họ, và con còn nêu gương lôi kéo nhiều tội nhân sám hối. Khi mãn đời, con sẽ lên đây hưởng phúc đời đời". Sau khi nghe những lời đó, tôi đáp lời ngay không do dự, tôi muốn trở về thế gian, và tôi đã chỗi dậy.

Thánh nữ Christina lập tức bắt đầu chương trình đền tội khắc nghiệt: Từ bỏ tất cả những tiện nghi của cuộc sống, bà sống không nhà, không lửa nấu, như chim trời không tổ. Chưa hài lòng, bà còn tìm ra mọi thứ gây đau khổ. Bà lao mình vào đám lửa cháy, ở trong đó nhiều giờ chịu thiêu đốt, nhưng khi ra khỏi đó không ai thấy dấu vết bị thương. Vào mùa đông, tại sông Meuse băng giá, bà lao mình xuống sông không những hàng giờ, hàng ngày mà còn cả nhiều tuần lễ để cầu xin ơn thương xót của Chúa. Bà thánh còn để cho bánh xe đè, cho chó cắn, cho gai đâm đến chảy máu...Sau 42 năm hành xác, Chúa đã đưa thánh nữ về hưởng phúc đời đời. Truyện này đã được Tổng Giám mục Cambray, ông Bellarmine, Hồng y Giacôbê de Vitry xác nhận (Purgatory p. 45-49).

* Thánh Bêđa thuật truyện sau cũng khá rùng rợn. Truyện xảy ra bên Nước Anh (miền Northumberland): Một người tên là Drythelm, ông và gia đình sống đời đạo hạnh theo tinh thần Công giáo. Ông mắc bệnh và bệnh tình ngày càng gia tăng. Kiệt lực, ông đã chết. Vợ con khóc lóc thương tiếc vô vàn. Con cái ngồi bên xác ông khóc lóc cả đêm. Nhưng hôm sau, trước khi đóng nắp quan tài, ông đột nhiên chỗi dậy. Thấy chuyện lạ, mọi người hoảng hốt trốn chạy. Chỉ còn lại vợ ông, run run sợ hãi ngồi lì đấy. Ông trấn an: "Ðừng sợ, chính Chúa cho phép tôi sống lại từ cõi chết. Tôi sẽ sống một đời sống mới". Nói rồi ông đứng thẳng lên, đi tới nhà thờ, ở lại đó ông cầu nguyện lâu giờ. Ông trở về nhà gặp bà con bạn hữu, nói lên cuộc sống của ông từ nay sẽ chỉ là để dọn mình chết lại. Ông còn khuyên mọi người noi gương ông. Rồi ông chia tài sản thành ba phần: cho con cái, cho vợ và cho người nghèo khó. Xong xuôi, ông đến gõ cửa Tu viện, nài xin cha Bề trên cho ông ở đó như một tu sĩ đền tội, làm tôi tớ mọi người. Cha Bề trên cho ông một phòng nhỏ. Ông chia thời giờ làm ba khoảng: cầu nguyện, làm việc cực nhọc và hãm mình khác thường. Ăn chay nhiệm nhặt nhất, ông cho là không có gì đáng kể. Mùa đông, ông lao mình xuống hồ nước băng giá, ở đó nhiều giờ cầu nguyện, đọc đủ 150 Thánh vẹnh vua Ðavit.

Ðời sống hãm mình của ông, thái độ luôn cúi mặt xuống đất, và cử chỉ của ông tỏ cho thấy nỗi sợ Thiên Chúa phán xét chừng nào. Ông giữ im lặng tuyệt đối, nhưng để cho người khác hiểu những gì đã xẩy ra cho ông sau khi chết, ông diễn tả:

"Khi linh hồn tôi lìa khỏi thân xác, có một thanh niên tốt lành bảo tôi đi theo. Mặt anh sáng láng, mình cũng có ánh sáng bao bọc. Anh dẫn tôi tới một thung lũng rộng bát ngát, tôi rất kinh sợ, run rẩy hãi hùng. Nơi này chia thành hai phía: môt bên tràn ngập lửa thiêu, gió nóng hừng hực, bên kia tràn đầy băng tuyết, gió thổi tái tê. Trong thung lũng lạ lùng này có rất nhiều linh hồn, tôi không thể đếm được, họ đang bị nhào lộn từ vực nóng qua vực lạnh và từ vực lạnh qua vực nóng, cứ liên hồi như vậy mà không được nghỉ. Tôi tưởng như tôi đang thấy Hỏa ngục bởi ở đây ghê gớm kinh hoàng quá, nhưng người thanh niên bảo tôi rằng, đó chỉ là Luyện ngục. Các linh hồn bị phạt như vậy bởi đã không chịu ăn năn sám hối khi còn khỏe mạnh, mà chỉ kịp ăn năn trong phút chót trên giường bệnh nhờ lòng thương xót Chúa. Nhiều linh hồn phải chịu phạt ở đây đến ngày Phán xét chung, một số sẽ được ra khỏi đó trước, nhờ lời cầu nguyện của các giáo dân, sự làm phúc bố thí, ăn chay đền tội, và nhất là công phúc Thánh lễ Misa dâng lên cầu cho họ" (Purgatory p. 41-43).

Khi được hỏi, tại sao ông lại hãm mình quá như vậy, tại sao lại lao mình xuống hồ nước lạnh, ông mạnh mẽ trả lời: Sự khổ hạnh tôi chịu bây giờ chưa thấm vào đâu với hình khổ Luyện ngục tôi đã được thấy. Về sau ông qua đời như một vị thánh. Gương lành của ông đã lôi kéo một số tội nhân ăn ăn sám hối trở về đường lành.

* Thánh nữ Frances, sáng lập dòng Oblates, qua đời tại Rôma năm 1440, được Chúa soi sáng cho biết tình trạng các linh hồn Luyện ngục rất rõ ràng. Bà thấy Hỏa ngục và những hình khổ cực dữ trong đó. Bà cũng được thấy Luyện ngục nữa. Vâng lời các Bề trên, bà đã ghi lại những gì bà đã thấy theo lệnh cha linh hồn là cha đáng kính Canon Matteotti. Bà thánh viết: "Sau khi thấy những hãi hùng trong Hỏa ngục, tôi được thoát ra khỏi nơi đó và thiên thần dẫn tôi vào Luyện ngục. Luyện ngục không có cảnh hãi hùng và vô trật tự, cũng không có thất vọng và tối tăm đời đời, Luyện ngục có sự hy vọng thần linh ngời sáng, nơi thanh tẩy này coi như cuộc hành trình hy vọng. Các linh hồn Luyện ngục chịu đau đớn dữ dằn, nhưng các thiên thần thăm viếng, an ủi họ. Luyện ngục được chia làm ba phần, như ba địa hạt rộng lớn trong vương quốc đau khổ. Nơi nọ ở trên nơi kia với những loại linh hồn khác nhau. Những linh hồn ở tầng sâu hơn bởi có nhiều điều phải thanh tẩy hơn và phải ở đó lâu hơn. Tầng sâu nhất đầy lửa nóng hãi hùng nhưng không đen kịt như Hỏa ngục, đó là một biển lửa mênh mông, với những ngọn lửa bừng bừng. Vô số linh hồn phải lao mình vào đó. Họ là những linh hồn mắc tội trọng, đã thành thực xưng thú, nhưng chưa đền tội đủ khi còn sống. Với tất cả những tội trọng đã được tha, họ phải chịu đau đớn trong bảy năm. Thời gian này không thể đo lường cách rõ ràng, bởi tội trọng có ác tính khác nhau, đó chỉ là hình phạt trung bình. Và dù các linh hồn bị lửa vây quanh, hình khổ của họ cũng không giống nhau, nó khác nhau tùy theo số lượng và bản chất mọi tội.

Trong tầng sâu Luyện ngục này, có những giáo dân và tu sĩ. Giáo dân tuy đã phạm tội, nhưng sống hạnh phúc sau khi ăn năn chân thành. Tu sĩ đã hiến mình cho Thiên Chúa không sống thánh thiện theo bậc mình. Bà thánh cũng thấy linh hồn một linh mục bà đã quen biết, nhưng bà không nói tên, vị này che mặt bằng một tấm vải, tuy linh mục này có đời sống tốt lành, nhưng không luôn giữ điều độ mà còn quá tìm thỏa thích nơi bàn ăn.

Bà thánh lại được dẫn vào tầng giữa Luyện ngục, nơi dành cho những linh hồn không phải chịu hình khổ dữ dằn. Nơi này được chia thành 3 ngăn: Ngăn nhất giống như một khu ngục băng giá, buốt giá không thể tả, ngăn hai lại là một vạc dầu sôi vĩ đại, ngăn thứ ba giống như cái hồ chứa vàng bạc lỏng" (Purgatory p. 15-17).

* Theo thánh nữ Mađalena de Pazzi, nữ tu dòng Kín Florence, do cha linh hồn ghi lại trong truyện đời thánh nữ thì: Vào năm 1607, ít lâu trước khi thánh nữ qua đời, một chiều kia, khi thánh nữ đang ngồi với mấy chị em đồng tu trong khu vườn tu viện, thánh nữ được ơn xuất thần, được thấy Luyện ngục và được mời đi thăm viếng. Thánh nữ cho biết: ngài đã đi trong khu vườn rộng lớn 2 giờ đồng hồ, đôi khi ngừng lại. Chị em thấy mặt ngài tái nhợt và đôi lúc la lên: Lạy Chúa hay thương, xin xuống, giải thoát, lạy Máu Thánh Chúa. Ôi các linh hồn khốn khó, họ chịu đau khổ dữ dằn nhưng bằng lòng và vui vẻ".

Thánh nữ còn được dẫn xuống tầng sâu hơn nữa, ngài do dự, nhưng rồi cũng xuống, đột nhiên ngài dừng lại, rồi thở dài, kêu lên: Lạy Chúa tôi, những linh hồn tu trì phải hành hình khổ sở chừng nào! Bà thánh không tả nỗi khổ, nhưng coi thái độ kinh hoàng của bà, người ta đoán được hình khổ hãi hùng. Bà còn được dẫn vào ngục tù của những linh hồn đơn thành, các trẻ em và những người phạm lỗi bởi thiếu hiểu biết, hình khổ của họ dễ chịu hơn. Nơi đó có giá lạnh và lửa nóng. Có các thiên thần Bản mạnh ở bên các linh hồn này, giúp họ can đảm chịu khổ. Bà cũng thấy quỉ dữ mặc những hình thù ghê gớm gia tăng nỗi khổ cho các linh hồn này.

Ði xa hơn, bà thánh thấy các linh hồn bất hạnh, bà kêu lên: Ôi nơi này khốn nạn chừng nào! Ðầy những quỉ xấu xa ghê gớm và những hình khổ không thể tả, họ bị đâm chém và xẻ ra từng mảnh". Bà thánh cho biết, họ là những kẻ giả đạo đức.

Xa hơn chút nữa, bà thánh thấy rất đông những linh hồn bị thương tích, bị đè dưới máy ép, bà thánh hiểu họ là những kẻ nghiện ngập, bất nhẫn, bất vâng phục khi còn sống. Một lúc sau, bà thánh lại kêu lên ghê sợ: Những kẻ dối trá bị giam phạt gần Hỏa ngục, hình khổ của họ là bị đổ chì lỏng vào miệng và đồng thời bị run rẩy bởi băng giá.

Bà cũng được dẫn đến ngục những linh hồn phạm tội bởi yếu đuối, nhưng họ cũng phải bị thiêu bằng thứ lửa gay gắt.

Bà lại được đi nữa, tới nơi phạt những linh hồn quá gắn bó với những của cải đời này, họ phạm tội hà tiện, keo kiết. Bà thánh kêu lên: Ôi, mù tối chừng nào! mong muốn tìm những của mau qua, họ đã được giầu có mà vẫn không thỏa lòng, bây giờ ở đây chịu khổ hình lên tới cổ họng, họ bị tan chảy như nến sáp trong lò lửa.

Bà lại tới chỗ những linh hồn phạm tội thiếu trong sạch. Bà thấy họ bị giam ở nơi dơ bẩn và dịch tả làm nôn mửa. Bà vội quay mặt khỏi nơi ghê tởm đó. Bà thấy những kẻ tham lam và kiêu căng, bà nói: Ðây là những kẻ muốn sáng chói trước mặt người đời, bây giờ họ bị án sống nơi tối tăm ghê rợn. Bà còn được thấy những kẻ sống vô ơn Thiên Chúa, họ bị những hình khổ không thể tả, bị ngâm trong hồ chì lỏng để đền bù những tội vô ơn.

Cuối cùng, bà được dẫn tới nơi phạt những tội nhân không có nết xấu nào đáng kể, nhưng bởi thiếu lòng nhiệt thành, họ phạm đủ thứ tội lặt vặt, đôi khi họ phạm tội này tội nọ chứ không phạm theo thói quen.

Sau khi được chứng kiến Luyện ngục hãi hùng, thánh nữ nài xin Chúa đừng bao giờ để ngài phải chứng kiến lần nữa, những hãi hùng ngài nghĩ là không đủ sức chịu đựng. Ngài thưa cùng Chúa Giêsu: Lạy Chúa, Chúa có ý gì khi tỏ cho con những hình khổ ghê sợ trong Luyện ngục như vậy, dù con chưa thấy hết và chưa hiểu tỏ, ôi lạy Chúa, Chúa muốn con hiểu là Chúa thánh thiện vô cùng, và muốn con chê ghét tội lỗi dù là tội rất nhẹ, nó cũng rất đáng ghê tởm trước mặt Chúa (Purgatory p. 17-21).

* Thánh nữ Lidwina thành Schiedam qua đời ngày 11 tháng Tư năm 1433. Trong tiểu sử bà do một linh mục đồng thời có thế giá viết lại rằng: Bà thánh này thật là một quãng gương kiên nhìn và là một miếng mồi ngon cho mọi bệnh tật đau đớn tàn phá trong suốt 38 năm dài. Nỗi đau da diết làm cho bà không thể ngủ được. Bà đã qua đi những đêm dài thức trắng trong nguyện cầu. Bà được thiên thần Bản mạnh dẫn vào Luyện ngục, nơi đó bà thấy những ngục tù, những tội nhân, những hình khổ, và gặp cả những người bà đã quen biết.

Bà thánh nhớ rõ ràng những nơi được dẫn đi qua. Bà tả lại rằng: Bà gặp một tội nhân mắc đủ thứ tội xấu xa ở đời, nhưng sau cùng ông ta đã sám hối, đã xưng thú thành thực và được lãnh ơn xá giải, nhưng ông ta không có đủ giờ sống để đền tội, ông ta chết một thời gian sau bởi bệnh dịch. Bà thánh đã dâng lời cầu và các đau khổ chỉ cho linh hồn ông. Bà thánh muốn biết linh hồn ông còn ở Luyện ngục hay không, và tình trạng hiện nay thế nào? Thiên thần dẫn bà tới nơi và chỉ cho bà: Ông ta đang ở đó và rất đau đớn, Thiên thần hỏi bà có muốn chịu thêm đau khổ để cứu ông ta không? Bà thánh thưa : Có. Bà kinh hãi khi nhìn thấy những hình khổ và bà kêu lên: Ðây là Hỏa ngục sao? Thiên thần trả lời rằng: Không, đây là Luyện ngục nhưng ở phía trên Hỏa ngục. Nhìn quanh, bà thấy như một nhà tù rộng rãi, bao bọc bằng những bức tường rất cao, rất đen, xây bằng những viên đá khổng lồ. Bà nghe thấy những tiếng kêu la, gào thét hỗn độn, tiếng xích sắt va chạm, tiếng đập đánh, tát vả. Tiếng kêu la này còn lớn hơn những tiếng ồn ào trên thế giới, hơn tiếng reo hò xông vào trận địa, không gì có thể so sánh được. Bà thánh xin thiên thần đừng cho mình thấy cảnh tượng này: "Xin đừng để tôi thấy cảnh kinh hãi quá sức này, tôi không thể chịu được".

Ði tiếp, bà thấy một thiên thần ngồi buồn bã bên bờ giếng. Hỏi ra, bà được biết đó là thiên thần Bản mạnh của tội nhân trên. Linh hồn tội nhân đang ở dưới giếng, đó là một Luyện ngục biệt giam. Bà thánh muốn coi, và thiên thần đã mở nắp giếng lên, tức thì một đám lửa phực cháy và tiếng la kinh hãi vang lên rùng rợn. Thiên thần hỏi: Bà có nhận ra tiếng ai không? Bà có muốn thấy ông ta không? Thiên thần gọi tên ông, và kìa trong linh thiêng, ông ta ở trong khối lửa giống như kim loại đỏ rực trong lò. Ông ta kêu rên: Ôi bà Lidwina, tôi tớ Thiên Chúa, ai sẽ cho tôi được chiêm ngắm Nhan thánh Chúa tối cao? Tiếng thở dài của linh hồn này làm bà thánh không sao quên được, bà kinh hãi đến nỗi giây thắt lưng bung ra và bà chợt tỉnh giấc ngất trí. Bà hứa sẽ cầu nguyện và dâng đau khổ cho linh hồn này. Ít ngày sau, thiên thần cho bà biết, người bà cầu nguyện đã được chuyển qua Luyện ngục thông thường. Như thế cũng chưa đủ. Bà thánh tiếp tục cầu nguyện cho linh hồn đáng thương ấy cho tới khi thấy linh hồn ông bay về Thiên đàng (Purgatory p. 21-25).

* Thánh nữ Brigitta kể lại trong cuốn thứ sáu về những mạc khải như sau: Tôi được đưa xuống Luyện ngục, và tôi thấy một thiếu nữ ở giữa những linh hồn khác. Thiếu nữ này trước kia là con nhà giầu, và thường ăn diện rất xa hoa theo thói đời. Thiếu nữ này đã kể lại tình trạng đời sống của mình cho thánh nữ Brigita nghe, và thêm rằng: "Phúc cho tôi, bởi trước khi chết, tôi đã được xưng tội dọn mình chết, tôi không phải rơi vào Hỏa ngục, nhưng tôi phải chịu cực hình trong Luyện ngục bởi cuộc sống trần tục mà Mẹ tôi đã không chỉ cho tôi tránh, không chỉ dẫn cho tôi sống đạo hạnh" (Purgatory p. 117-118).

* Thánh Lui Bertrand dòng thánh Ðaminh kể rằng: Khi ngài ở tại Tu viện Valencia, có một tu sĩ trẻ trong tu viện này miệt mài với những khoa học trần thế. Tưởng mình thông thái, một hôm, không rõ bởi chuyện gì, tu sĩ này nói nặng cha Bertrand: "Thưa cha, ai cũng thấy rằng cha rất kém học thức". Cha Bertrand trả lời cách khiêm tốn nhưng quả quyết: "Luciphe rất thông thái, nhưng hắn đã bị phạt". Lời nói thiếu khiêm tốn và bác ái kính trọng của tu sĩ trẻ người non dạ đã phải đền bù. Dù là tu sĩ rất đạo đức, thầy không nghĩ tới việc sám hối lời nói đó. Một thời gian sau, thầy bị bệnh rất nặng, thầy được lãnh các Bí tích cuối cùng, và qua đời bình an.

Ít lâu sau, cha Bertrand được bầu làm Bề trên tu viện. Một hôm, khi ngài đang đọc kinh Sáng với cộng đoàn, tu sĩ trẻ hiện về mình đầy lửa quấn quanh, sấp mình trước mặt cha Bề trên Bertrand: "Lạy cha, xin tha thứ cho lời con đã nói thiếu lịch sự với cha ngày trước, Chúa không cho phép con được thấy mặt Chúa trước khi được cha tha thứ và dâng lễ cầu cho con". Cha Bề trên vui lòng tha thứ, và sáng hôm sau đã dâng lễ cầu cho thầy. Ðêm kế tiếp, khi đang cầu nguyện, ngài được thấy linh hồn thầy dòng trẻ tuổi rực sáng lên hưởng phúc Thiên đàng (Purgatory p. 153-154).

* * * * * * * * * *



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Cám ơn quý vị đã xem trang web này, xin giới thiệu cho nhiều người cùng xem.
Related Posts with Thumbnails

Tìm kiếm trên website MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Loading