Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý NGHĨA CUỘC SỐNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý NGHĨA CUỘC SỐNG. Hiển thị tất cả bài đăng

SUY TƯ VỀ VÔ THƯỜNG VÀ CÁI CHẾT Matthieu Ricard biên dịch (Hoang Phong chuyển ngữ)

SUY TƯ VỀ VÔ THƯỜNG VÀ CÁI CHẾT
Matthieu Ricard biên dịch
(Hoang Phong chuyển ngữ)

"Cái chết không nấn ná để chờ xem những gì ta đã làm
và những gì ta sẽ còn phải làm"
Tịch Thiên (Shantideva)


Tháng 10 năm 2010 vừa qua, nhà xuất bản Nil vừa phát hành một quyển sách rất công phu dầy hơn 400 trang của nhà sư người Pháp, Matthieu Ricard, góp nhặt những đoạn hay nhất trong kinh sách Tây tạng mà ông có dịp chuyển ngữ từ vài chục năm nay. Dưới đây là bản dịch một chương ngắn liên quan đến vô thường và cái chết. Sách mang tựa đề là "Những con đường tâm linh, tuyển tập nhỏ về những đoản văn xuất sắc nhất của kinh sách Tây tạng" (Chemin spirituels, Petite anthologie des plus beaux textes tibétains).
            Mỗi giây phút trong cuộc sống đều tượng trưng cho một giá trị vô biên. Thế nhưng chúng ta lại cứ để cho thời gian trôi đi như những hạt cát vàng lọt qua kẻ hở của bàn tay. Chẳng có gì đáng buồn hơn khi thấy đôi bàn tay trắng vào cuối đời mình. Hãy ý thức sự quý báu của từng giây phút trong cuộc sống. Nên sử dụng những giây phút ấy một cách hữu hiệu hầu mang lại sự tốt lành cho ta và cho người khác. Trước hết phải xóa bỏ mọi ảo giác khiến ta tin rằng "còn cả một cuộc đời trước mặt". Sự sống của ta trôi đi như một giấc mơ, một lúc nào đó nó sẽ dừng lại mà ta không hề hay biết. Không nên nấn ná hãy sử dụng những giây phút còn lại một cách thiết thật nhất để khỏi hối hận khi lìa đời. Tu tập để phát huy những phẩm tính nội tâm không bao giờ là một việc quá sớm.
            Bản chất phù du của mọi hiện tượng được thể hiện dưới hai dạng khác nhau : thứ nhất là vô thường thô thiển - chẳng hạn như mùa màng đổi thay, núi non sụp lở, thân xác già nua, xúc cảm trồi sụt - thứ hai là vô thường tinh tế, phát hiện trong từng đơn vị nhỏ bé nhất của thời gian. Trong từng khoảnh khắc cực vi tất cả những gì dù bề ngoài có vẻ bền vững thì thực ra cũng đều không tránh khỏi sự đổi thay. Phật giáo xem thể dạng vô thường tinh tế tương tợ như một giấc mơ, một ảo ảnh, một dòng lưu chuyển vô tận không thể nắm bắt được.
            Người tu tập phải thường xuyên ghi nhớ trong tâm trí mình ý nghĩ về cái chết, tuy nhiên không phải vì thế mà người ấy phải buồn khổ và u sầu, trái lại ý nghĩ ấy luôn nhắc nhở họ không nên phí phạm những giây phút trong cuộc sống này mà hãy sử dụng chúng để biến cải nội tâm mình, đúng như những gì mà mình mong ước. Ta thường có xu hướng tự nhủ : "Tôi phải thanh toán cho xong các công việc đang chờ đợi và hoàn tất các dự án dở dang, sau đó mới mở mắt ra được để lo đến đời sống tâm linh." Tuy nhiên đấy chỉ là một cách nguy hại nhất để tự đánh lừa mình cái chết là một chuyện hiển nhiên, chỉ có điều là ta không thể biết trước nó sẽ đến lúc nào và trong bối cảnh nào. Trong cuộc sống thường nhật, dù trong cảnh huống nào chẳng hạn như đang đi, đang ăn hay đang ngủ... tất cả đều có thể bất thần biến thành nguyên nhân đưa đến cái chết. Đấy là những gì mà người tu tập chân chính phải luôn ghi nhớ. Ở Tây tạng, các nhà tu ẩn dật khi nhóm bếp lúc tinh sương đều tự nhắc nhở lấy mình là biết đâu sáng mai mình sẽ không còn ngồi đây để nhóm thêm một bếp lửa mới. Sau mỗi hơi thở ra họ đều nghĩ rằng mình vẫn còn may mắn để hít vào một hơi thở mới. Ý nghĩ về cái chết và vô thường là động cơ khích lệ họ chú tâm hơn vào việc tu tập hằng ngày.
LONG THỤ (NAGARJUNA - Thế kỷ thứ I) (1)

Ngọn gió của muôn ngàn khổ đau thổi tạt
Lên cuộc sống mong manh như bọt nước này.
Kỳ diệu thay, sau một giấc ngủ dài,
Ta thức dậy trong khoan khoái để được hít vào và lại thở ra.


LIÊN  HOA  SINH (PADMASAMBHAVA, thế kỷ VIII - IX) (2)

Như một dòng thác đổ vào biển khơi,
Như mặt trời, mặt trăng lặn xuống sau những rặng núi xa,
Ngày và đêm, giờ và phút, tất cả qua mau,
Cuộc sống con người trôi đi không kéo lại được.
DILGO  KHYENTSÉ  RINPOCHÉ (1910 1991) (3)
            Như lượng dầu trong chiếc đèn luôn vơi dần, mọi sự trên thế gian mỗi lúc một gần hơn với hồi chung cuộc. Thật vô cùng ngây thơ khi nghĩ rằng có thể hoàn tất các công việc dở dang và sau đó sẽ dành quãng đời còn lại của mình để tu tập Đạo Pháp. Có chắc là ta còn sống đến lúc ấy hay không ? Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào không phân biệt là già trẻ lớn bé ! Dù đang làm gì thì ta cũng nên nhớ là mình sẽ chết và luôn tự nhắc nhở mình về điều này trên Đường tu tập [...] Một kẻ tội phạm bị truy nã không có một giây phút nào được yên tâm; lúc nào y cũng lo sợ, phải nghĩ ra trăm ngàn kế để trốn tránh sự trừng phạt. Chắc chắn ta sẽ không thấy người ấy mải mê phác họa sơ đồ để thiết kế một căn nhà mới cho mình. Làm thế nào ta có thể lơ là khi cái chết đang rình rập trong từng giây phút ? Vậy chỉ còn cách tu tập Đạo Pháp ngay từ giờ phút này, hầu giúp ta biến cái chết thành một người bạn. [...]
            Tất cả mọi thứ đều có hạn kỳ. Người nông dân hiểu rõ điều này, họ canh chừng để biết lúc nào cần phải cày, phải gieo hay phải gặt, họ chuẩn bị mọi thứ khi cần đến. Trong lúc ta đang hội đủ mọi điều kiện thuận lợi và gặp được một vị thầy chân chính chỉ dạy, chẳng lẽ ta lại bỏ hoang cánh đồng giải thoát của mình ?
            Các kiếp sống tương lai đang chờ đợi ta một con đường thật dài cái chết chỉ là một ngưỡng cửa phải bước qua. Ta sẽ bước một mình qua cái ngưỡng cửa ấy, họa may sự tu tập và lòng tin tưởng nơi vị thầy của mình là những gì duy nhất có thể giúp ta trước ngưỡng cửa đó. Cha mẹ, bạn hữu, uy quyền, của cải và những gì ta thường coi trọng đều phải bỏ lại.
            Nếu cứ để cho công việc lặt vặt làm mất hết thì giờ đến khi hấp hối ta sẽ hối tiếc và sợ hãi sẽ xâm chiếm lấy mình, tương tợ như một tên trộm bị nhốt vào ngục và tự hỏi số phận mình sẽ ra sao. Mật-lặc-nhật-ba (Milarépa) có nói với người thợ săn Gonpo Dordjé như thế này : "Hãy đặt lòng tôn kính vững chắc vào Thầy mình và Tam Bảo dù cho phải mất tất cả, nhưng ngươi sẽ sống và sẽ chết trong an bình và lòng tràn ngập hân hoan".
LIÊN HOA SINH  (PADMASAMBHAVA, thế kỷ thứ VIII - IX) (4)
Sự sống trôi nhanh như những đám mây mùa thu ;
Cha mẹ, bạn bè như những người [bàng quang] đứng nhìn hàng hóa trong một ngày họp chợ ;
Thần chết đang lén lút rình rập như chiếc bóng xế buổi hoàng hôn.
Thế giới bên kia [đối với chúng ta] như một con cá trong suốt đang bơi trong dòng nước đục;
Thế giới như một giấc mơ hiện đến trong giấc ngủ tối qua ;
Thú vui giác cảm thì cũng như một ngày lễ hội phù du ;
Sinh hoạt thường nhật không khác những gợn sóng vô tích sự,
Đang xô đẩy nhau trên mặt nước.
DILGO  KHYENTSÉ  RINPOCHÉ  (1910 -1991) (5)
            Xuân đến các hạt giống nẩy mầm. Hè sang các cây non vươn lên, trổ lá và đơm hoa. Sang thu hoa mầu chín rộ, mùa gặt hái bắt đầu. Đông về lại xới đất để chờ xuân năm sau. Từng tháng con trăng lên cao và khuất đi, từng ngày mặt trời mọc rồi lại lặn mất, tất cả biến đổi không ngừng. Chiều tối, rộn rã tiếng ca và điệu nhảy của hàng nghìn quan khách ; hừng đông, hoang vắng và yên lặng. Sau những phút ngắn ngủi của một đêm lễ hội, những kẻ trác táng đến gần hơn một chút với giây phút lâm chung..
SHECHEN  GYALTSAP (1871 - 1926) (6)
Giữa những đám mây ảo giác và phù du,
Lấp lóe một tia chớp của sự sống này.
Bạn có tin rằng mình còn sống đến ngày mai ?
Hãy tu tập Đạo Pháp ngay trong lúc này đi !
GOUNTHANG  TENPAI  DRÖNMÉ (1762 - 1823) (7)
Trong dòng nước xanh biếc đang nhảy múa,
Giữa tiếng rì rào bất tận của những làn sóng vỗ,
Vang lên tiếng kêu cứu của một người con gái.
Đến khi nào nàng sẽ bị đông cứng trong băng giá của mùa đông ?
  
Những cánh đồng lấp lánh đầy hoa, vang lên tiếng ong rộn rã,
Chẳng mấy chốc sẽ tê buốt trong băng giá của buổi sáng mùa thu,
Để rồi trở thành hoang vắng như những bóng ma,
Rên siết và lo sợ trước những cơn mưa đá dập dồn.

Hai con chuột, một trắng một đen - ngày và đêm -
Luân phiên gặm nhấm những cọng rơm của sự hiện hữu này.
Trong mỗi khoảnh khắc ta bước thêm từng bước,
Để đến gần hơn với kẻ thù là cái chết.

Kìa một cụ già đang khóc đứa con ra đi,
Thân cụ run lên và còng xuống.
Mái tóc bạc phơ xoắn lại như một chiếc vỏ sò.
Nào có ai bảo những người già đi trước ?
TENNYI  LINGPA (1480 - 1535) (8)

            Suy tư về Vô thường
            Hãy tưởng tượng bỗng thấy mình trơ trọi trong một nơi xa lạ, chẳng biết từ đâu đến và cũng chẳng biết mình phải đi đâu. Ta lạc vào một thung lũng thật buồn thảm hướng về phương bắc, mặt đất đen xì rải rác những di tích đổ nát màu gạch đỏ, không một bóng người, từ xa vọng lại tiếng ầm ầm của thác đổ từ các vách đá của những ngọn núi âm u. Các tảng đá sụp lở lăn xuống phá vỡ cả triền núi cao, gió rít trong cỏ dại, một đàn ác thú đang tranh nhau cấu xé một xác chết. Tiếng sủa ăng ẳng của chó rừng hòa lẫn với tiếc oang oác của lũ quạ và tiếng kêu than của loài chim cú. Đỉnh núi giống như những lưỡi nhọn đâm thủng cả bầu trời , gió hú, mặt trời lặn xuống sau rặng núi, bóng tối dầy đặc tỏa rộng khắp nơi.
            Lạc lõng, không bạn đồng hành, tôi chẳng biết mình đang ở đâu và phải đi về đâu. Vô cùng thất vọng tôi chỉ biết than vãn một mình : "Thật thảm thương, tôi đang ở đâu thế này ? Con cái tôi đâu rồi ? Cha mẹ tôi ? Của cải tôi ? Xứ sở tôi ? Thật vô cùng kinh hoàng !"
            Tôi hoang mang muốn bước đi, nhưng vừa nhấc chân lên đã vấp té và ngã lăn xuống một vực sâu. Đang khi rơi tôi bỗng nắm được một bụi cỏ mọc trên một ghềnh đá cheo leo. Tôi nắm chặt chùm cỏ, tuyệt vọng và lơ lửng trong không trung. Nhìn xuống, hun hút không thấy đáy vực đâu cả, nhìn lên vách đá phẳng lì như một tấm gương vút lên tận trời xanh. Gió rít bên tai. Bỗng nhiên phía bên phải của bụi cỏ từ một kẻ hở trong phiến đá có một con chuột trắng chui ra cắn một cọng cỏ và tha vào hang. Bên trái bụi cỏ lại xuất hiện một con chuột đen cắn một cọng cỏ và tha vào một hang khác. Cả hai con thay nhau cắn từng cọng cỏ mang đi, bụi cỏ thưa dần, (hai con chuột một trắng và một đen tượng trưng cho ngày và đêm đang làm cho cuộc sống của ta ngắn lại).  
Không có cách nào đuổi hai con chuột, tôi kinh hoàng nghĩ đến cái chết gần kề : "Thế là giây phút cuối cùng đã đến". Chung quanh chẳng có bóng dáng một ai cho tôi cầu cứu. "Trước đây tôi không hề nghĩ đến tôi sẽ chết và không hề chú tâm vào việc tu tập Đạo Pháp. Tôi không nghĩ phải giáp mặt với cái chết sớm như vậy, thế nhưng nó lại đang hiện diện trước mặt. Tôi sẽ không còn nhìn thấy các con tôi, bạn hữu tôi, của cải và quê hương tôi. Trước đây tôi chỉ biết gom góp của cải và không hề quan tâm đến những gì tốt đẹp hơn, để rồi giờ đây tôi phải bỏ lại tất cả để đơn độc lạc vào một nơi mà tôi không biết đấy là đâu. Thật kinh hoàng ! Làm thế nào để thoát khỏi số phận thảm thương này ? Còn có một chút may mắn nào giúp tôi ra thoát hay chăng ?"
            Bỗng nhiên Thầy tôi hiện ra trên bầu trời, mang sáu món trang sức bằng xương, ngồi trên tòa sen cạnh một vầng trăng, đang lắc chuông và đánh vào một cái trống nhỏ (đấy là các biểu tượng mà người Thầy muốn gợi lại cho người đệ tử : hoa sen tượng trưng cho cuộc sống thế tục nhưng vẫn giữ được sự thanh cao, mặt trăng tượng trưng cho lòng từ bi, sáu món trang sức bằng xương tượng trưng cho sáu phẩm hạnh siêu nhiên, chuông nhỏ tượng trưng cho trí tuệ, cái trống tượng trưng cho Đại Phúc hạnh). Thầy tôi múa một cách thật oai nghi trong không trung và nói với tôi :
            "Bất hạnh thay ! Hiện tượng vô thường đang làm con biến mất. Mùa màng trôi nhanh, tất cả mọi người dù bạn hay thù đều già nua và phải chết. Tuổi trẻ cũng tàn phế theo từng tháng, từng ngày. Không có cách nào để đẩy xa cái chết, tuy nhiên nếu con nghĩ rằng còn có thể ra thoát thì hãy nhìn vào cảnh huống của con trong lúc này và tức khắc không được chậm trễ hãy chú tâm nghe thầy dặn bảo với tất cả sự tôn kính."
            Khi nghe những lời nói ấy tôi thét lên : "Tiếc thay ! con đang đứng trước ngưỡng cửa cái chết và rất hối hận vì trước kia con không chuyên cần tu tập để biến cải tâm thức mình. Dù phải chết hay được sống còn, con xin đặt số phận con vào tay Thầy và Tam Bảo. Xin Thầy và Tam Bảo tràn đầy lòng từ bi hãy giải thoát cho con khỏi vực thẳm và chu kỳ hiện hữu ! Thầy là hiện thân của Tam bảo, con xin đặt số phận con trong tay Thầy !".
            Khi những lời cầu khẩn xuất phát từ nơi sâu thẳm của đáy lòng ta hướng vào vị Thầy thì một tia sáng cũng phát ra từ tim của vị Thầy rọi thẳng vào tim ta đúng vào lúc mà chùm cỏ đang treo lơ lửng sinh mạng mình sắp đứt hết . Tia sáng kéo ta ra khỏi vực thẳm và đưa ta vào mảnh đất tinh khiết của Đại Phúc Hạnh. Vô lượng tia sáng khác sẽ phát ra từ tim ta để tiếp dẫn chúng sinh trong ba cõi của thế giới ta-bà, không bỏ sót một chúng sinh nào, tất cả đều cùng ta bước vào mảnh đất tinh khiết của Đại Phúc Hạnh. Hãy suy tư như thế để phát huy lòng từ bi cực mạnh.
ĐỨC PHẬT THÍCH-CA MÂU-NI  (Thế kỷ thứ V trước Tây lịch) (9)

Như một vì sao băng, một ảo ảnh hay một đốm lửa,
Một ảo giác, một giọt sương mai hay một bọt nước,
Một giấc mơ, một tia chớp hay một làn mây,
Hãy nhìn mọi sự vật cấu hợp giống như thế.


ĐẠT-LAI  LẠT-MA  THỨ VII, KELZANG GYATSO (1708 - 1757) (10)

Đến lúc phải đặt xuống
Trước ngưỡng cửa cái chết, gánh nặng của kiếp người,
Chẳng có ai mang theo được cha mẹ, bạn hữu,
Tôi tớ và của cải của mình.
Thương thay cho một tâm thức còn bị nô lệ bởi sự bám víu.
Hãy chặt đứt hết các mối ràng buộc ấy đi !


GOTRAKPA (1170 - 1249) (11)

Thân xác, vô thường như sương sớm một ngày xuân ;
Tâm thức, phi vật chất như bầu trời trống rỗng ;
Tư duy, tan nhanh như một cơn gió thoảng ;
Lúc nào ta cũng nên suy tư về ba điều ấy !


GAMPOSA (1079 - 1153) (12)             Bước đầu ta phải khiếp sợ sự sinh và cái chết, như một con hươu vừa thoát bẫy. Giữa đường, ta không nên hối tiếc bất cứ điều gì dù đấy là cái chết của mình, giản dị như người nông dân vừa làm xong công việc đồng áng. Bước vào đoạn cuối của con đường, ta hãy hân hoan như một người vừa hoàn tất một công việc thật bao la [...]
            Cần nhất phải hiểu rằng không được chậm trễ, phải khẩn cấp như ta vừa bị một mũi tên đâm trúng vào một chỗ nhược trên thân mình.
MẬT-LẶC-NHẬT-BA (MILARÉPA, 1040 - 1123) (13)
Khiếp sợ trước cái chết, tôi đi vào các vùng núi non,
Ra sức thiền định về sự bất định của nó.
Chinh phạt được thành trì bất tử của sự trường tồn,
Giờ đây tôi không còn lo sợ cái chết nữa !


JIGMÉ  LINPA (1729 - 1798) (14)

Những ai từng bị cái nóng của mùa hè hành hạ,
Đang nhàn nhã dưới ánh trăng vằng vặc của mùa thu.
Họ không có vẻ gì khiếp sợ,
Chẳng qua vì không hề nghĩ đến,
Kiếp sống của họ đã bớt một trăm ngày*.


*(một trăm ngày là thời gian giữa mùa hè và mùa thu)
PATRUL  RINPOCHÉ (1808 - 1887) (15)
Bất hạnh thay cho chúng ta còn vướng mắc trong ảo giác,
Còn xem thế giới khổ đau này là thật và trường tồn !
Trước lòng tốt vô biên của vị Thầy,
Chúng ta cầu mong nhận được phúc lành để sống tốt đẹp như một lời giảng huấn !
Sinh ra đời, chúng ta lăn xả vào con đường đang mở rộng,
Nó hướng chúng ta vào một ngưỡng cửa chật hẹp, nơi Thần Chết đứng chờ,
Thịnh nộ và bất trị, Hắn vung con dao dài và giật chiếc dây thòng lọng đen kêu lên đồm độp,
Hắn nhìn bằng cặp mắt làm lạnh toát cả người.
Như thế đó chúng ta từ giã cõi người,
Thế nhưng trước đây chúng ta chẳng bao giờ nghĩ đến.
Cất giữ trong bao những hạt giống màu trắng,
Chúng ta đem gieo và chờ đến mùa gặt hái.
Là những người nông dân chúng ta nào biết cuộc sống sẽ chấm dứt lúc nào,
Biết đâu chúng ta sẽ không còn đó,
Để nâng chén rượu trong mùa gặt mới ?
Ý nghĩ về cái chết chẳng bao giờ hiện lên trong đầu những con gà trống trẻ !
Nếu có những gì khác biệt giữa con người và một thây ma,
Thì đấy cũng chỉ là một sợi chỉ mành buộc vào một hơi thở ngắn.
Thật nhẹ nhàng tâm linh rời bỏ thân xác một thanh niên hấp hối,
Thế nhưng người ta cứ bảo đấy là một sự đau buồn và khiếp sợ quá nặng nề.
Thế còn bạn, đang lúc trẻ trung và tươi mát, ngực áo cài hoa và mang đầy trang sức.
Có khi nào bạn nghĩ đến lúc đầu bạc và già nua ?
Làm thế nào có thể che dấu được những tàn phá âm thầm của thời gian.
Bạn làm gì được nào ? Già nua đôi khi còn tàn ác hơn cả cái chết !
Thân xác này, từng được chăm sóc cẩn thận chỉ là kho chất chứa đủ mọi khổ đau.
Không báo trước, nghịch cảnh giáng xuống bằng những mũi tên thật bén nhọn,
Những mũi tên của bệnh tật cắt đứt mối liên hệ giữa tâm linh và thân xác,
Biến chúng ta thành lễ vật hiến dâng cho Thần Chết.
Xác chết nằm kia khiến mọi người sợ hãi và lánh xa,
Thật ra cũng không khác gì với xác chết của bạn một ngày nào đó !

Xin vị Thầy nhân từ hãy nhìn xuống,
Những khổ đau mà chúng ta đang gánh chịu.
Bất lực không đủ sức nhổ bỏ cội rễ của sai lầm,
Chúng ta bị lừa bịp từ kiếp này sang kiếp khác,
Để phải cuồng quay trong chu kỳ hiện hữu của cõi ta-bà.
Cầu mong chúng ta tìm thấy hạnh phúc,
Và tháo gỡ được các khúc mắc của những ảo giác này !
Cuộc gặp gỡ giữa Patrul Rinpoché và Tcheuying Rangdrol (16)
(Patrul Rinpoché là tác giả bài thơ trên đây)
            Một hôm nhà sư ẩn dật và phiêu bạt Patrul Rinpoché cùng với một người bạn là Péma Dorjé đến viếng ngôi chùa Kathok. Họ men theo con đường mòn bên bờ Hồ Đen, vượt qua các băng hà trên dãy núi Thromgo. Sau cùng họ trèo lên được ngọn Núi Thiêng, ngọn núi có một triền dốc thẳng băng gọi là Nữ Hoàng của các Vách đá Hung ác.
            Triền núi này là nơi ẩn dật của một vị đại thiền sư tên là Tcheuying Rangdrol. Tcheuying Randrol sống ẩn dật gần như suốt đời mình. Tuy không được học hành cao siêu nhưng đã thấu triệt được con đường thiền định của Đại Phúc Hạnh. Quần áo vỏn vẹn một tấm da cừu khoác ngoài đã cũ và mòn nhẵn, bên trong là một manh áo mong manh mà cổ áo lại khâu ngược ra ngoài. Ông chưa bao giờ đi đâu cả, ngày ngày chỉ ngồi yên trên một manh chiếu để lắng sâu vào thiền định.
            Patrul Rinpoché và Péma Dorjé trèo đến nơi và gặp Tcheuying Randrol đang thiền định. Patrul Rinpoché phủ phục xuống đất và lạy Tcheuying Randrol ba lạy, sau đó ông xin Tcheuying Randrol giảng dạy cho mình giáo lý về Bản thể của Không gian Rạng rỡ, theo đúng truyền thống của dòng truyền thụ tâm linh thuộc các vị tổ trụ trì của chùa Kathok.
            Ngày đầu tiên, Tcheuying Rangdrol chắp tay trước ngực xướng lên vài tiết trong giáo lý, sau đó thì lập lại thật chậm rãi ba lần câu thứ nhất như sau :
"Thật đáng tiếc,
Quả rất khó để có thể kết hợp giữa các thể dạng tự do và sự ràng buộc của các điều kiện,
Cần thiết cho sự hiển lộ của Giác ngộ."
            Thế rồi nước mắt tuôn trào xuống hai má của ông. Patrul Rinpoché cũng bật khóc theo và sau đó Tcheuying Rangdrol giữ yên lặng một lúc lâu và buổi giảng chấm dứt.
            Sang hôm sau, Tcheuying Rangdrol lại tiếp tục giảng dạy theo cách đó, ông không phân tích văn bản mà đi thẳng vào kinh nghiệm do chính ông đã đạt được. Sau đây là câu ông xướng lên :
            "Sự sống của chúng sinh đổ xuống như một thác nước trên đỉnh núi !"
            Ông chắp hay tay trước ngực và khóc, ông giữ yên lặng một lúc rồi lại xướng lên :
            "Phải coi trọng những điều kiện thuận lợi đang có và sự tự do mà mình đang được hưởng.
            Đừng phung phí một cách vô ích cuộc sống này !"
            Nhìn thấy thế Péma Dorjé nghĩ rằng : "Thật hết sức lạ lùng ! Một vị Thầy như Patrul Rinpoché đã thấu triệt toàn thể các giáo lý mà lại thân hành đến đây để tiếp nhận một sự giảng dạy sơ đẳng đến thế ! Thế nhưng chỉ cần đơn giản nhắc đến sự hiếm hoi được làm thân con người mà cả Thầy lẫn trò phải ôm nhau mà khóc. Thật tôi chẳng hiểu gì cả".      
(Trong buổi thuyết giảng đầu tiên, Cheuying Randrol nêu lên sự khó khăn trong việc tu tập khi phải mang thân xác trói buộc của con người, thế nhưng làm con người là một điều kiện cần thiết để tu tập, lời thuyết giảng ấy đã làm cho ông động lòng trắc ẩn đối với chúng sinh và bật khóc. Patrul Rinpoché cảm nhận được những xúc cảm từ bi ấy trong lòng của Cheuying Randrol nên cũng khóc theo. Hôm sau Cheuying Randrol nêu lên số phận của chúng sinh cùng sự hiếm hoi và quý báu được làm thân con người. Niềm hân hoan đó, sự giác ngộ đó đã làm cho ông lại bật khóc. Patrul Rinpoché bất chợt cũng cảm nhận được sự hiếm hoi và quý giá ấy khi được làm thân con người để tu tập, khiến ông cũng khóc theo. Lòng từ bi và sự giác ngộ trong lòng hai ông tương tợ như những dây đàn căng thẳng trong yên lặng, chỉ cần một lời giảng xướng lên chạm nhẹ vào dây đàn cũng khiến cho những giọt nước mắt trào ra. Hai vị đại sư không đủ sức kiềm chế lòng từ bi và sự giác ngộ bùng lên thật mãnh liệt trong lòng mình nên đã ôm nhau mà khóc).

Bures-Sur-Yvette, 04.11.10
Hoang Phong chuyển ngữ

NGHĨ SUY VỀ CÁI CHẾT



Chúng người ta cần phải biết học cách đối mặt với cái chết, và làm nhiều điều ý nghĩa hơn cho cuộc sống, cho cộng đồng trước khi nhắm mắt xuôi tay…


Có một lần, ghé thăm blog của cậu bạn cùng tuổi, thấy bạn có một bài thơ nói về những nguy hiểm luôn rình rập mỗi chúng ta trong cuộc sống này, tôi bất giác giật khi nhận ra trong nhịp sống của xã hội hiện đại này, không ít người luôn mang trong mình một cảm giác chông chênh khi cảm nhận được về ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.




Chẳng phải  vậy sao, khi ngày nào mỗi chúng ta cũng nghe nhan nhản trên đài báo, tivi tin tức về những người đang  lặng lẽ nói lời từ tạ trần gian…  Có người chết vì tai nạn, vì cãi cọ, đâm chém, thù hằn; vì thất tình, chán nản; vì bon chen kèn cựa, cạnh tranh nhau một quyền lợi hay một vị thế nào đó trong cuộc sống dẫn đến hãm hại lẫn nhau; vì bệnh tật hiểm nghèo không cách chữa – và thậm chí là có thể chữa nhưng gia đình quá nghèo, không thể trang trải nổi, đành bất lực nhìn những người thân của mình từ từ ra đi…


Rồi lại có những cái chết đớn đau vì miếng cơm manh áo – giống  như trường hợp của một đôi vợ chồng trẻ mà hôm vừa rồi về thăm quê, tôi được nghe mọi người kể lại: Xe máy chất đầy mấy bao tải rau, chồng chất lên nhau, vợ ngồi ở đằng khung xe trước, đi trên đoạn đường nhỏ, gặp một đống gạch nhà ai đó xếp cản lối, người chồng đánh tay lái ra để tránh, chẳng may xe trượt ngã, lao đầu xuống một con mương thoát nước nhỏ bên đường... Đầu xe cắm xuống bùn cùng hai con người bất hạnh, và những tải rau nặng đè lên, không thể thoát được ra. Hai vợ chồng nọ chết ngạt – với một thai nhi 2 tháng tuổi trong bụng và để lại giữa cuộc đời một đứa con khác mới lên 2 tuổi.


Và không chỉ dừng lại ở đó, vẫn luôn có những cái chết vô hình rình rập xung  quanh mỗi chúng ta, đến từ hiểm họa ô nhiễm môi trường sống, từ nguồn nước cho tới bầu không khí – toàn những thứ thiết yếu và gắn chặt với hơi thở của con người… (Không băn khoăn, không hoảng sợ sao được khi mà đọc trên báo chí, thấy thông tin về mức độ bụi ô nhiễm trong không khí ở thủ đô Hà Nội – trái tim của cả nước là vượt quá 3 lần so với nồng độ bụi cho phép bình thường trong không khí?)


Phải vì cuộc sống này quá chật chội và ngột ngạt như thế, đầy những sự ích kỷ và tham lam nên luôn có những người chọn cách đi ra khỏi thế gian, mà  tìm cho mình một chốn khác bình yên hơn chăng?


Có một lần, ông thầy dạy của tôi đã kể cho nghe câu chuyện về một người đàn ông may mắnthoát chết trong một chuyến bay do trục trặc của một bộ phận nhỏ trên máy bay. Chỉ khi hạ cánh an toàn trên mặt đất, nhịp tim ông mới đập bình thường trở lại được. Ông vội vã về nhà, gặp vợ và con gái đang cắm nến sinh nhật. Ông kể cho vợ và con nghe về chuyến bay định mệnh vừa rồi, về sự lo lắng không chỉ cho tính mệnh của mình mà cho cả cuộc sống của vợ và con... Vợ ông mỉm cuời với một câu nói: - Mọi chuyện cuối cùng đều đã qua, tốt đẹp rồi phải không anh? Anh lên gác chuẩn bị rồi xuống đón khách với mẹ con em.


Người đàn ông lê từng bước chậm chạm lên gác, ngồi giữa căn phòng tối cô đơn… Ông chợt nhận ra, vợ và con gái không hề quan tâm tới câu chuyện mà mình vừa kể... Trong khoảnh khắc ông thấy mình cô đơn ghê gớm, như bị bỏ quên, lạc lõng giữa thế gian, và ngay trong căn nhà nhỏ ấm cúng của mình. Cho đến khi chị vợ chờ lâu mà không thấy chồng xuống, chạy lên thì thấy ông đã treo mình lủng lẳng trên một sợi dây thừng...


Câu chuyện muốn nói về sự quan tâm dành cho nhau trong cuộc sống là cần thiết biết bao nhiêu. Không cứ phải là những điều gì quá ư là lớn lao và to tát. Chính những cử chỉ, những sự quan tâm bình dị, giản đơn lại mang lại cho người khác nhiều cảm động và trân trọng!




Con người ta trong cuộc sống này, ai cũng mải mê chạy theo nhiều ham muốn, tham vọng để thỏa mãn bản thân, mà sự quan tâm dành cho chính con người – là người thân, bạn bè – đôi khi thật ít ỏi. Và chỉ đến khi không còn sự hiện hữu của một ai đó trên cuộc đời này, trong cuộc sống của ta, ta mới nghĩ nhiều về họ, mới nhận thấy mình đã vô tình và bỏ qua rất nhiều những khoảnh khắc mà có thể mang lại hạnh phúc, sự ấm áp sưởi ấm trái tim nhau…


Sự hiện hữu trong tôi khi nghĩ về cái chết – luôn là những tiếng kèn đưa đám ai oán, thê lương…. Tôi sợ - sợ thứ âm thanh ấy. Nó như khơi, như cứa vào ruột gan người nghe… Nó nhắc nhớ trong tôi về một buổi sớm mùa đông đường đồng lạnh lẽo đưa bà nội tôi về nơi an nghỉ tãi nghĩa địa của làng; nhắc nhớ những giọt nước mắt lã chã đã rơi khi tôi chít khăn và đứng đáp lễ trước hài cốt liệt sĩ của người chú ruột hi sinh khi mới 19 tuổi mà tự tay tôi đã mang về từ chiến trường miền Đông Nam Bộ ngày xưa – dẫu chưa hề gặp mặt và chú không có một tấm hình nào để lại, nhưng vẫn cứ thấy đau, biết đang tiễn một người thân rời xa mình vĩnh viễn…


Và mới đây thôi, tôi lại chứng kiến nỗi nghẹn ngào của cô  bạn lớp trưởng học cùng THPT  trước linh cữu của người cha đột ngột ra đi ở tuổi. Cha bạn đã không đủ kiên nhẫn, không chờ đợi được thêm một vài hôm nữa để ngắm con gái mình trong màu áo cưới ngày vu quy…Ngồi bên bạn, trước linh cữu người cha thân yêu của bạn nằm lặng yên giữa căn nhà trong ánh nến bập bùng và khói hương nghi ngút, tôi bất giác rùng mình, nhận ra một điều:  tôi và tất xả những người trẻ khác trên thế giới này, rồi lần lượt đều sẽ phải trải qua những cảm giác, những khoảnh khắc giống như cô bạn của tôi đang phải trải qua kia – chứng kiến những người thân và bạn bè quanh mình lần lượt rồi sẽ rời bỏ chúng ta đi mãi trước sự phôi pha đổ đầy theo năm tháng của thời gian…


Còn rất nhiều, vô vàn những sự  chia tay rời bỏ khỏi thế gian này mà tôi đã được nghe hoặc tận mắt chứng kiến trong đời, của cả những người trong họ hàng, làng xóm cho đến sự ra đi của những người lạ thoáng gặp qua trên đường đời hay qua màn ảnh nhỏ tivi…


Và như thế, rõ ràng con người chúng ta  là loài cô đơn nhất giữa nhịp sống, khi mà từng ngày trôi qua là từng ngày đang nhích dần đến cái thời điểm những người quanh ta sẽ rời xa mãi mãi, nhích dần đến với ranh giới của sự cô đơn…


Tuổi 25  –  ngồi viết về cái chết, suy nghĩ về cái chết – hẳn sẽ có người cười nói tôi lo xa, hão huyền… Nhưng quả thực, không lo không được, khi ,mà tôi cứ thấy ranh giới giữa sự sống và cái chết trong cuộc sống này thật mong manh. Vì bản thân cuộc sống của chúng ta bây giờ luôn đầy những nguy hiểm, bất trắc như thế…  Từng giây từng phút xung quanh chúng ta đều có những người phải nói giã từ với cuộc sống này mà có thể vẫn còn đó rất nhiều băn khoăn, dự định chưa được thỏa mãn, hoàn thành – trong đó có những người mà ta yêu quý…


Cái chết - chúng người ta cần phải biết học cách đối mặt với cái chết, và làm nhiều điều ý nghĩa hơn cho cuộc sống, cho cộng đồng trước khi nhắm mắt xuôi tay…Và đã không ít lần tôi tự hỏi lòng: con người sống với nhau không được bao nhiêu như vậy, sao cứ phải trao cho nhau những mỏi mệt, oán thù, mà không phải là tình yêu và sự bình yên???


LƯƠNG ĐÌNH KHOA   

Đi Tìm Chân Lý

Lý Lạc Long

Đi Tìm Chân Lý


Trong một câu chuyện của Mạnh Tử: Có một người bán mâu và thuẫn quảng cáo về mâu và thuẫn của mình như sau:
- Mâu này bất cứ thứ gì cũng đâm thủng đươc .
- Thuẫn này không có thứ gì đâm thủng được .
Lời quảng cáo như trên của người bán "mâu thuẫn" với nhau và hai mệnh đề mâu thuẫn với nhau không thể cùng đúng một lượt. Phải có một mệnh đề (quảng cáo) sai. Vì vậy dẫn đến câu nói mà chúng ta thường nghe: "Chân lý chỉ có một" dựa trên "nguyên lý bất mâu thuẫn" này .
Trong lịch sử toán học, chúng ta nhận thấy có ba tiền đề mâu thuẫn làm nền tảng cho ba nền hình học khác nhau (Euclide, Riemann và Lobatchevsky ):
- Hình học Euclide dựa trên tiền đề: Từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, ta chỉ có thể kẻ được một đường thẳng duy nhất song song với đường thẳng đã cho.
- Hình học Riemann dựa trên tiền đề: Từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, ta không thể kẻ được một đường thẳng nào song song với đường thẳng đã cho.
- Hình học Lobatchevsky dựa trên tiền đề: Từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, ta có thể kẻ được vô số những đường thẳng khác nhau song song với đường thẳng đã cho.
Nếu theo nguyên lý bất mâu thuẫn thì chắc chắn chỉ có một nền hình học là đúng. Nhưng trong thực tế thì cả ba nền hình học này đều được ứng dụng rất đúng trong ba mặt khác nhau của không gian. Hình học Euclide ứng dụng trong thế giới thường ngày của chúng ta (hình học phẳng) . Hình học Riemann ứng dụng trong việc nghiên cứu thế giới của các nguyên tử và phân tử (ngành vi vật lý). Hình học Lobatchevsky ứng dụng trong việc nghiên cứu thế giới của các thiên thể vũ trụ (hình học không gian). Điều này cho thấy một thực tại như không gian có thể có nhiều mặt (thực tại đa diện) và nếu chúng ta giữ quan niệm không gian chỉ có một mặt duy nhất (thực tại đơn diện) thì chúng ta không thể giải thích được tại sao cả ba tiền đề mâu thuẫn với nhau, như ở trên, đều đúng.
Trước thực tế đó, triết học bắt buộc phải đặt lại vấn đề về nguyên lý bất mâu thuẫn của nhận thức luận cũ. Vì căn cứ theo thực tế thì mọi sự vật đều có nhiều mặt, tối thiểu là với ba chiều (dài, rộng, cao), và người ta có thể nhìn một sự vật từ sáu mặt khác nhau (trước, sau, trên, dưới, phải, trái) và sáu cách nhìn sẽ dẫn đến những nhận thức khác nhau, thậm chí có thể mâu thuẫn nhau. Giả sử, nếu có người nào đó đặt vấn đề là trong sáu cách nhìn một sự vật, cách nhìn nào đúng? Đây là một câu hỏi khôi hài và càng vô lý hơn nữa khi có ai xác quyết là trong sáu cách nhìn ấy chỉ có một cách nhìn là đúng. Và như vậy là năm cách nhìn còn lại , theo câu nói "chân lý chỉ có một" đều phải sai hết. Mặc dù rất rõ ràng đây là một chuyện khôi hài và vô lý. Tuy nhiên nó cũng có thể xảy ra một cách dễ dàng nếu người ta chấp nhận nguyên lý bất mâu thuẫn là đúng và quan niệm thực tại chỉ có một mặt (thực tại đơn diện).
Câu chuyện "Những người mù sờ voi" là một thí dụ diễn tả rõ ràng cái nhận thức phiến diện của con người. Những người mù sờ voi cãi nhau vì ai cũng quả quyết là mình đúng. Và nếu mình đúng thì mọi người khác phải sai và làm sao mình chấp nhận được? Nhân loại thảm sát nhau trong những cuộc chiến tranh không những để tranh dành quyền lợi mà còn để bảo vệ chân lý. Bảo vệ cái chân lý chính bản thân mình đã chứng nghiệm, đã xác tín và tin tưởng đó là chân lý duy nhất. Ngờ đâu đó chỉ là "chân lý của mình" mà không biết rằng người khác cũng có "chân lý của họ". Các tôn giáo, các ý thức hệ, các khuynh hướng và đảng phái chính trị ... phe nhóm nào cũng khăng khăng xác quyết là chỉ có lập trường của phe mình là đúng. Ai cũng sẵn sàng đổ máu của mình cũng như của phe đối lập để bảo vệ "chân lý của mình". Ai cũng coi bảo vệ chân lý là một lý tưởng cao đẹp!
Đa số chúng ta đều cho mình biết được thực tại (reality), cái gì tôi thấy, biết, nghe, hiểu đều là sự thật (truth). Vì thế nên mới có “ngã kiến” (tức là cái thấy của tôi) và “kiến thủ” (khư khư cho cái thấy của tôi là đúng). Nhưng thực ra chúng ta chỉ nắm bắt được những mảnh vụn của thực tại xuyên qua nhiều cái lọc (filter) hay lăng kính (mirror).
Đứng trước thực tại, chúng ta thâu nhận nó qua những giác quan của mình như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nếu các giác quan của ta không được chính xác như mắt cận hay viễn thị, tai điếc, mũi nghẹt, lưỡi khô, thân bệnh, ý đang tán loạn, vui buồn v.v... thì thực tại sẽ bị méo mó đi một phần. Tri giác là một cái lọc hay lăng kính thứ nhất. Và thực tại ban đầu trở thành thực tại số 1 qua tri giác . Kế tiếp thực tại đó được nhìn ngắm qua lăng kính gia tài văn hóa, xã hội mà ta đã sinh ra và lớn lên. Tùy theo ta là người Việt, người Hoa, người Pháp, người Anh ... ta sẽ nhìn thấy sự việc một cách khác nhau. Và qua cái lọc văn hóa xã hội thực tại số 1 đã biến thể thành thực tại số 2. Tiếp theo đó, cũng cùng là người Việt, nhưng mỗi người có những kinh nghiệm riêng tư không giống nhau. Và như vậy, qua cái lọc của kinh nghiệm bản thân ta, thực tại số 2 đã biến thành thực tại số 3. Cuối cùng, khi cái Ý của ta nhận thức thực tại thì nó chỉ có thể thấy thực tại số 3 chứ không thể thấy cái thực tại ban đầu nữa. Sau khi nhận thức thực tại số 3, ý thức của ta "đóng khung" thực tại số 3 qua hình ảnh, ngôn ngữ, khái niệm ... thành thực tại số 4 và ta cho đó là thực tại "thứ thiệt". Cái thực tại sau cùng mà Ý nhận thức được chỉ còn là một bóng dáng, một thực tại méo mó với những mảnh vụn rơi rớt vì đã trải qua nhiều cái lọc. Thực tại (chân lý) chỉ còn là cái bóng . Tuy vậy, đa số chúng ta lại "Tưởng" là mình nắm bắt được thực tại, tự cho là mình biết đúng, thấy đúng sự thật. Và vì vậy, chúng ta muốn người khác phải tin và nghe theo ý kiến của chúng ta.
Trên phương diện tương đối trong đời sống hàng ngày, chúng ta không thể không có "Tưởng", không Tưởng cái này thì cũng Tưởng cái kia. Tưởng rồi Tin vào cái Tưởng của mình gọi là tin tưởng (belief). Những cái Tưởng đúng hoặc gần với thực tại, với chân lý thì được gọi là chánh kiến, hay minh triết ... vì nó đem lại an vui hạnh phúc, còn những cái Tưởng méo mó sai lầm không đúng thực tại, tin vào đó sẽ đưa đến buồn phiền khổ đau thì gọi là vọng tưởng (false belief). Ngay cả những cái ta cho là sự thật hay chân lý rồi và khư khư bám chặt vào đó thì nó cũng trở thành một loại vọng tưởng. Về phương diện tuyệt đối, có thể nói con người không có khả năng nhận thức thực tại (chân lý) mà chỉ là nhận thức cái bóng của thực tại (chân lý). Vì thực tại biến đổi theo từng "sát-na".
(Theo Phật giáo, danh từ sát na được dùng để chỉ thời gian chớp nhoáng của mỗi biến đổi. Một ngày 24 giờ được tính bằng sáu ngàn bốn trăm tỷ, chín vạn, chín ngàn, chín trăm tám mươi sát na.)
Và chúng ta thường lầm lẫn giữa ý tưởng và thực tại, cũng như giữa danh từ và sự vật. Thí dụ khi chúng ta nhìn ngắm một bức ảnh chụp một vật gì đó, như một trái táo chẳng hạn . Hãy để ý, hình ảnh (chụp) trái táo không phải là trái táo, danh từ trái táo không phải là trái táo và ý tưởng về trái táo cũng không phải là trái táo, trái táo như là một thực tại đã biến đổi . Một thí dụ khác như khi ta xem bản đồ của một thành phố, như New York chẳng hạn . Bản đồ NewYork không phải là thành phố New York dù cho đây là bản đồ mới nhất và được chụp với máy ảnh tối tân nhất thì cũng chỉ là bức ảnh của thành phố New York chụp vào một thời điểm cố định trong quá khứ. New York hiện tại đã khác với hình ảnh New York đã chụp. Những danh từ , ý tưởng và bản đồ giúp cho chúng ta có một khái niệm về thực tại và sự vật, nhưng khi có trong tay thì chúng ta lại xem chúng (danh từ, ý tưởng, bản đồ) như là thực tại và quên đi thực tại. Thực tại luôn luôn biến đổi theo từng sát na trong khi danh từ, ý tưởng và bản đồ thì cứng ngắc không thay đổi.
Tóm lại , tri thức của chúng ta về một sự vật nào đó thì không phải là sự vật chính nó. Cái mà chúng ta biết được về thế giới thực tại chung quanh ta chỉ là những phóng ảnh từ tâm thức, hay nói khác hơn chỉ là thế giới biểu tượng của thực tại, chứ không phải là thực tại nguyên bản. Bởi vì, tính chất của nhận thức là phân biệt thế giới thực tại qua khái niệm; mà giữa khái niệm và thực tại thì hoàn toàn khác nhau. Do đó, bất luận một sự vật nào, hễ còn được xây dựng trên khái niệm thì đều là huyễn ảo - nghĩa là chúng luôn luôn Vô Thường .
(Vô thường là luật tuần hoàn của vũ trụ. Nơi nào có sự vận hành, chuyển biến, đổi dời, nơi đó có Vô Thường. Vô Thường không phải chỉ là giáo lý riêng của Phật giáo, mà vào thế kỷ thứ 6 trước Tây Lịch, một triết gia Hy-Lạp Herakleitos cũng đã nói : "Tất cả (sự vật) đều ở trong trạng thái biến đổi" (All is in a state of flux). )
Từ xưa đến nay, biết bao nhiêu triết gia, biết bao nhiêu lý thuyết chủ trương không giống nhau, và chúng ta vẫn chưa biết được đâu là chân lý. Cái mà hôm qua người ta gọi là chân lý, hôm nay đã không còn là chân lý. Cái mà hôm nay mọi người cho là chân lý, ngày mai lại có thể là sai lạc. Lý trí con người khổ sở vô cùng trong khi đi tìm chân lý, và cho đến bây giờ con người vẫn nghi ngờ không biết rằng lý trí mình có thể có khả năng đạt đến chân lý hay không? Sự nghi ngờ đó cho thấy sự yếu kém của tri thức nhân loại. Và như vậy cái gọi là chân lý mà con người nhận thức được bằng tri thức giới hạn của mình không phải là chân lý đúng và toàn thể (chân lý tuyệt đối “?”) mà chỉ là những nhận thức có tính chất chủ quan và phiến diện. Vì vậy, có thể nói, tất cả những học thuyết triết học muốn giải nghĩa, giải thích ... toàn thể vũ trụ này cũng chẳng khác nào những lời mô tả con voi của những người mù sờ voi mà thôi???
Đi tìm chân lý ở đâu?
Câu hỏi quá khó đau đầu thế nhân .
Lý Lạc Long ( TTL/TCT/MAI/ 29/5/06)


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Giêsu Maria Giuse con mến yêu xin cứu rỗi các linh hồn
"Anh em đừng có lòng chai dạ đá , cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng…Anh em phải cho một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng..." (Đnl 15: 7-11)
Nếu những người giàu có biết chia sẻ của cải cho những người nghèo thì thế giới sẽ không còn người bị chết vì đói nữa...
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Chết là Cuộc Sống Mới

Một Thoáng Suy Tư
Tầm Xuân, CMC
Chết là Cuộc Sống Mới

Phải chăng đời người chỉ gói trọn trong hai chữ "Sống và Chết." Thật vậy, con người sinh ra ở đời này không phải để sống luôn mãi, nhưng sau một thời gian vắn dài, con người phải chết. Vì đã có sinh thì lại có tử, không trước thì sau, không sớm thì muộn, thần chết sẽ đến với ta một cách bất ngờ, đó là định luật của con người. Lối đi một chiều không có ngày trở lại.

Kinh nghiệm cho thấy, từ xa xưa đến nay, không có ai được sống mãi. Vào năm 2002, ông Yukichi Chuganji, người Nhật bản đã mừng ngày sinh nhật thứ 113th; và năm 2003, bà Kamato Hongo cũng ở nhật bản đã được toàn thế giới cho là người sống lâu nhất là 116th tuổi. Hai ông bà này được coi là người đã sống lâu nhất thế giới. Tuy đã được xem là sống lâu nhất, nhưng không thể nói là được sống mãi không bao giờ chết. Bạn hãy tưởng tượng xem, nếu ai cũng sống mãi mà không chết đi, thì thế giới ngày nay có chỗ đâu cho người ta ở. Chắc gia đình bạn phải xây thêm mấy cái nhà nữa mới đủ. Nhưng thật tế đâu có vậy, từ lúc ông bà tổ Adong Eva phạm tội, con người đã đánh mất đi ơn bất tử trên dương thế. Chính tội đã làm cho bạn và tôi cùng chung một số phận phải chết.

Vào thời cựu ước, Ông Adam sống được 930 tuổi (St 5:5); Sét, con Adam, sống được 912 tuổi (St 5:80); rồi Abraham sống được một trăm bảy mươi lăm tuổi (St 25;7); Bà Sara vợ ông sống được một trăm hai bảy tuổi (St 23:1). Chúng ta không được biết sao những người thời xưa sống được lâu như thế, có lẽ họ tính chu kỳ thời gian một năm hoặc một tháng ít hơn chúng ta bây giờ. Tuy nhiên, dù sống được bao nhiêu năm đi nữa, rồi cuối cùng cũng lãnh lấy cái chết.

Nhiều người quan niệm rằng, "chết là hết." Thật vậy, khi nhắm xuôi tay, chúng ta không còn gì khác ngoài trừ một cái xác không hồn bất động, một bộ xương khô, rồi cuối cùng trở thành một nắm tro tàn cuốn theo chiều gió. "Hỡi người, hãy nhớ mình là tro bụi, một mai người sẽ trở về bụi tro (Kn 3:19)." Cái chết là hết sự đời. Bao nhiêu thành công tiền của, đã một thời vất vả gom góp đều tan theo mây khói. Muốn đem theo cũng chẳng được, nuối tiếc cũng đã muộn màng. Những ý định cho hiện tại, những mộng ước cho tương lại đều trở nên ảo tưởng. Mọi sự ở đời này trở nên vô ích khi thần chết đến viếng thăm.

Vì cùng một quan niệm "chết là hết", nên nhiều người đã không muốn nhắc đến cái chết, không muốn đối diện với thực tại của sự chết. Lúc còn nhỏ, mỗi khi các trẻ con đề cập đến cái chết, thì bố mẹ đều ngăn cấm không được nói. Cách đây khoảng mấy năm về trước, tôi nói đùa với bà cô tôi rằng, "Cháu có một linh tính là chỉ sống đến ba mươi tuổi là hết đời." Bà liền trách thương tôi, "Cháu đừng nói vậy, xuôi xẻo lắm." Tuy là nói vậy, chứ bạn đâu biết là bạn có thể sống đến ngày mai hay không? Có người ra đi rất trẻ mới chỉ có đôi mươi hoặc ba mươi xuân xanh. Lại có người sống đến răng long tóc bạc. Nhưng không ai có thể bảo đảm và biết chắc được cái chết của riêng mình. Chúng ta chỉ biết là một con người sức khõe dồi dào, thì có thể sống lâu hơn một con người đau yếu bệnh tật. Đây là chúng ta không kể đến những tai ương bất ngờ xảy đến.

Lý do người ta không muốn nhắc đến hoặc đối diện với cái chết là vì họ chưa sẵn sàng để ra đi. Họ sợ bỏ lại những người thân yêu, bỏ lại của cải vật chất, sự giàu sang đang được hưởng dùng. Nói cách khác, họ còn lưu luyến những cái tạm bợ ở đời này. Họ ví cái chết như một con dao hai lưỡi vô tình cắt đứt sự quan hệ giữa người với người, giữa người thân yêu đã một thời chung sống. Hơn nữa, sự chết sẽ tướt đoạt đi tất cả những gì họ yêu quý nhất, những gì họ đã bao năm lăn lộn với mồ hôi nước mắt, dầm mưa dãi nắng mà nay chưa được một lần tận hưởng. Nhưng thần chết đâu có thương xót một ai, miễn trừ cho kẻ nào. Từ một ông vua quyền quí cho đến một bác thợ mộc nghèo nàn đều phải bước qua ngưỡng cửa của sự chết.

Tuy nhiên, không phải ai cũng sợ và xa lánh cái chết. Vì có lắm kẻ đã tìm đến cái chết để thoát ly nợ đời; khi phải đối điện với chán chường thất vọng, đau khổ, khó khăn hoặc khủng hoảng tinh thần trong cuộc sống. Cùng đường bí lối, u sầu tuyệt vọng. Họ nghỉ rằng chỉ có cái chết mới là phương dược tốt nhất để giải quyết mọi vấn đề ngang trái. Chết đi thì còn đâu mà đau khổ, còn đâu mà nợ nần. Mọi đau khổ, lo lắng, phiền não, vương vấn của kiếp người đều tiêu tan theo bụi trần.

Nhưng họ đã lầm to, vì chết chưa phải là hết, vì theo phương diện tôn giáo, thì "chết đi là để bắt đầu một cuộc sống mới."

Đạo Phật quan niệm rằng, "Sau khi chết, nếu khi còn sống ở đời này, người ta ăn ở ngay lành, sống từ bi xã hỷ với mọi người, thì hồn thiêng của họ sẽ được đi về cõi cực lạc." Có thể gọi là Thiên Đàng như đạo Công Giáo. Vì thế, chúng ta thường thấy sau khi người thân chết, người ta hay tung hoặc đốt giấy bạc, vì họ nghĩ rằng, giấy bạc đó có thể trở thành phương tiện sống cho người chết trong cuộc sống mới. Còn những ai sống trong tội lỗi, phụ bạc xa hoa, thì họ sẽ đầu thai thành một con vật hoặc một người khác, để tiếp tục đền tội của mình. Tội nặng thì được đầu thai trong bậc sống thấp hơn, chẳng hạn như con giun con dế; còn tội nhẹ thì được liệt kê vào bậc cao hơn. Ác qủa ác báo. Mọi sự đều được sử phạt tùy theo cách sống của mỗi người.

Riêng đạo Công Giáo, "Mỗi người lãnh nhận một linh hồn bất tử, phần trả công muôn đời cho mình, ngay sau khi chết, trong một cuộc phán xét riêng, chiếu theo cuộc sống của mình hướng về Chúa Kitô, để hoặc sẽ trải qua một sự thanh luyện, hoặc lập tức bước vào hưởng diễm phúc trên trời, hoặc lập tức bị án phạt muôn đời" (GLCG #1022)

Điều mà nhiều người đang sợ hãi là bốn điều sau cùng của đời người, quen được gọi là "Tứ Chung", Chết, Phán xét, Thiên Đàng, và Hỏa Ngục. Cuộc phán xét sẽ được phân rẻ ra hai loại "Chiên và Dê." Chiên được phân biệt ra hai loại nữa; những người sạch tội, không còn vướng mắc một tí vết nào, thì sẽ được lên Thiên Đàng hưởng phúc đời đời. Theo Giáo Lý Công Giáo, "Thiên đàng dành cho những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, và đã hoàn toàn được thanh tẩy, sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô. Họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa, vì họ thấy Ngài "đúng như Ngài là, mặt giáp mặt" (#1023).

Còn "những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hòng đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng" (GLCG 1030). Vì thế, ngày nay, nhiều ông bà cha mẹ của chúng ta thường hay xin lễ để cầu nguyện cho những người qúa cố. Nhờ những thánh lễ Misa, để xin Chúa nhân từ xóa hết mọi tội và đưa họ về hưởng phúc trường sinh.

Riêng về Hoả Ngục là nơi dành riêng cho "những ai chết trong tội trọng mà không sám hối và không đón nhận tình thương đầy từ bi của Thiên Chúa. Có nghĩa là sẽ mãi mãi lìa xa Chúa do sự tự do lựa chọn của họ. Họ phạm tội cách nặng nề chống lại Ngài, chống lại tha nhân hoặc chống lại bản thân họ: 'Ai không yêu mến thì ở trong sự chết. Ai ghét anh em mình thì nó là tên sát nhân, mà anh chị em biết không một kẻ sát nhân nào có sự sống vĩnh cửu ở trong mình' (1 Ga 3:14-15). Và danh từ "Hoả Ngục" được dùng để chỉ tình trạng ly khai cách chung cuộc khỏi mối hiệp thông với Thiên Chúa và với các thánh trên trời" (GLCG # 1033).

Nếu tin rằng, chết là đi vào một cuộc sống mới, thì cuộc sống ở dương thế này chỉ mới bắt đầu nối tiếp hành trình cho kiếp sau. Vì thế, chúng ta hãy chuẩn bị cho mình một gói hành trang thật đầy đủ cho cuộc sống mai hậu. Chắc chắn không phải chúng ta sẽ tích lũy cho mình một kho tàng vật chất, như xây nhà lầu sắm xe hơi, hoặc tìm cách xây thêm phòng chứa để dự trữ của cải lương thực. Vì tích lũy mà không dùng được cho cuộc hành trình thì qúa uổng phí. Nhưng chúng ta hãy tích lũy cho mình một kho tàng trên trời, nơi mà mối mọt không thể đục khoét, phong ba bão táp không thể xô gã. Vậy làm sao để sắm cho mình được một kho tàng quí giá thiêng liêng đó?

Thưởng hay phạt là do cách thức sống của chúng ta đối với Thiên Chúa và cư sử với tha nhân khi còn ở tại dương thế này. Theo quyên tắc luân lý, "con người có khuynh hướng thích làm điều thiện, và tránh xa mọi điều xấu." Điều tốt dẫn con người đến sự thiện, và điều xấu đưa con người đến tội lỗi. Sự thiện là phương tiện đưa con người đến sự sống vĩnh cữu để họ hưởng được niềm hạnh phúc cùng với Thiên Chúa. Còn tội đẩy họ đến gần sự chết và bị án phạt đời đời. Vì thế, hãy ăn ngay ở lành, xa tránh các thứ tội lỗi làm mất lòng Chúa, gạt bỏ đi nếp sống bạc bẽo tình người, sống trong xa đoạ ngoan cố không chịu hối cải, khinh thường bỏ bê lệ luật đạo thánh Chúa. Thiên Đàng sẽ có sẵn sàng một chỗ tốt lành ấm áp cho bạn, nếu bạn tôn thờ một Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình. Trong cuộc sống thường ngày, hãy làm ơn cho kẻ thù ghét mình, biết lấy ơn báo oán. Được như vậy, bạn sẽ không còn sợ khi thần chết đến hỏi thăm, vì bạn đã sẵn sàng gói hành trang cho cuộc hành trình kế tiếp.

Thánh Phaolô nhắn nhủ các tín hữu thành Roma, "Không ai được sống cho mình và cũng không ai được chết cho mình. Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa; nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy dù chúng ta sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa" (Rm 14:7-8).




+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Website Hội Thánh Công Giáo MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối", "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh.
Cầu cho các linh hồn mồ côi và xin Chúa giúp chúng ta tránh xa tội lỗi.
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Ý Nghĩa Của Thời Gian

Ý Nghĩa Của Thời Gian

Ngày xưa, con phù du, con rùa và con lừa hăng say trao đổi ý kiến về ý nghĩa của cuộc đời mình. Con phù du quen sống vội vàng, nhanh miệng góp ý trước: “Giá mà tôi có nhiều thì giờ hơn để sống, thì mọi việc sẽ trở nên đễ dàng biết mấy. Các bạn thử nghĩ xem, loài phù du chúng tôi phải thanh toán bao nhiêu công việc trong 24 tiếng đồng hồ. Từ việc sinh ra, lớn lên, sinh sống, đau khổ, hạnh phúc, già nua rồi chết; tất cả trong 24 tiếng đồng hồ, không hơn không kém.”

Chú lừa cho biết ý kiến: “ Tôi thì lại thích cuộc sống các chú, kinh nghiệm được tất cả trong một khoản thời gian ngắn. Tôi nghĩ trên đời chẳng gì thú vị bằng, tuy ngắn ngủi nhưng đầy đủ tất cả.”

Đến đây con rùa mới chậm rải lên tiếng: “Thú thật tôi không hiểu các chú nói gì, tôi đã sống trên đời 300 năm, nhưng bây giờ thì thời gian ngắn quá để tôi có thể kể cho các chú, nhất là chú phù dung nghe một kinh nghiệm của tôi, nhưng tôi tạm tóm lược cuộc đời tôi trong một câu “Sao mà dài thế”. Trước đây 200 năm, tôi đã hết muốn sống. Nhìn chú phù dung, tôi ao ước có được cuộc sống của chú mày, còn chú lừa tôi thương hại ngươi.

Con lừa nghe nói, liền thay đổi lập trường: “Nghe ông rùa nói, tôi lại thích sống lâu 100 tuổi, để có đủ thì giờ hưởng thụ mọi thứ trên đời; còn gì sung sướng cho bằng sống lâu và sống ráo riết”.

Cả ba con thú đều buồn vì cả ba đều đo cuộc sống của mình theo thời gian và ao ước được sống cuộc đời dài hơn hay ngắn hơn hoặc cả hai.

Cuối cùng, cả ba đồng ý đi hỏi ý kiến con nhện, là con thú nổi tiếng khôn ngoan. Nghe xong những lời than vãn thở dài của cả ba, con nhện phát biểu: “Ông rùa không nên than vãn nữa, vì trên đời không ai nhiều kinh nghiệm hơn ông. Còn chú phù du, không nên than thân trách phận, vì trên đời không ai được hưởng nhiều hạnh phúc bằng chú”.

Con lừa chờ đợi để nghe con nhện nói về mình, nhưng nhện lặng thinh, nên nó lên tiếng hỏi và được trả lời: “Còn chú lừa, ta không có gì để góp ý kiến, vì chú vừa muốn sống ngắn, vừa thích sống dài, nên mãi mãi chỉ là con lừa Ý nghĩa của Thoi Gian, R. Veritas.

Thời gian Chúa ban cho con người dài ngắn khác nhau, ít ai bằng lòng với hiện tại. Vì không bằng lòng, nên con người thường hay lo lắng, bon chen, dùng đủ mọi khả năng, sức lực, tâm trí mong sống dài hơn, giàu có hơn, danh vọng và quyền lực hơn. Khi đã đạt đến mục tiêu rồi con người lại cảm thấy một khoản trống vắng trong tâm hồn mà tất cả những lạc thú trần gian không thể lấp đầy.

Chúa Giê-xu phán: “ Có ai trong vòng các con lo lắng mà làm cho đời mình dài thêm một khắc không? Xem loài chim trời, chẳng có gieo, gặt, chẳng thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các con trên trời nuôi nó. Hãy xem những hoa huệ ngoài đồng, chẳng làm khó nhọc, cũng chẳng kéo chỉ, nhưng Vua Salômôn sang trong đến đâu cũng không được mặc aó tốt như hoa đó..Trước hết hãy tìm kiếm nước ĐCT và sự công bình của Ngài (để trở thành con dân Thiên Chúa, sau đó), thì ngài sẽ cho thêm các con mọi điều ấy nữa.”

Khi là con dân Chúa, Ngài hứa sẽ chăm sóc, thương yêu, bồng ẵm chúng ta: “Ta đã gánh vác các con từ lúc mới sanh, bồng ẵm các con từ trong lòng mẹ. Cho đến chừng các con già cả, đầu râu tóc bạc, ta cũng sẽ bồng ẵm các con.. Ta sẽ bồng ẵm và giải cứu các con.” (Esai 46:3-4)

Và sau cùng Chúa cho con dân Ngài thấy rõ ý nghiã của thời gian và thỏa lòng trong thời gian đó: “Lạy Chúa từ đời nọ sang đời kia, Chúa là nơi ở của Chúng con, trước khi núi non chưa sanh ra, đất và thế gian chưa dựng nên, từ trước vô cùng cho đến đời đời Chúa là Đức Chúa Trời..Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi, hầu cho chúng con được lòng khôn ngoan.

Xin cho chúng con buổi sáng được thỏa dạ về sự nhân từ Chúa, thì trọn đời chúng con sẽ hát mừng vui vẻ.”(Thi thiên 90:1,12,14)

Khi chúng ta tin cậy Chúa, thỏa lòng trong Chúa, thì trong năm mới 2009 và trọn đời chúng ta sẽ tràn đầy hạnh phúc, vui mừng, ca ngợi và làm sáng danh Thiên Chúa.

VNC



+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Chỉ còn vài tuần lễ nữa là bước sang năm phụng vụ mới. Trong những ngày cuối năm này, Giáo Hội mời gọi con cái cầu nguyện cho các đẳng linh hồn. Khi làm như vậy Giáo Hội cũng mời gọi mọi người đối diện với chính nguyên lý và nền tảng của mình, đặt mỗi người đứng trước câu hỏi lớn: Ý nghĩa cuộc sống này là gì? Tại sao chúng ta lại phải chết? Chết rồi ra sao?

Câu hỏi tưởng chừng đơn giản ấy, thế mà rất không dễ có câu trả lời. Đã bao thế hệ trôi qua, biết bao lớp người ngã xuống, ấy vậy mà câu hỏi cứ trơ gan cùng tuế nguyệt như một thách thức, như một cột mốc đánh dấu giới hạn con người không thể vượt qua. Rất nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm đột phá vùng cấm địa này. Thế nhưng giải pháp đưa ra chỉ được ủng hộ bởi một số rất ít, được tạm chấp nhận bởi một số tương đối, và bị chống đối bởi đại đa số. Phải chăng ý nghĩa cuộc sống không tìm được mẫu số chung?

Tôi nhớ câu chuyện về nhà hiền triết nọ thích suy tư về đề tài này. Oâng luôn lập đi lập lại câu hỏi: đâu là ý nghĩa cuộc sống. Nghe vậy một em Hoạ Mi bay tới và nói:

- Ý nghĩa cuộc sống ư ? Chỉ là vui ca nhảy múa. Rồi nó bay đi trong tiếng hót véo von.

- Chú chuột chũi thì gầm gừ phản đối: Đời là một cuộc chiến đấu không ngừng với bóng tối.

- Còn chị Bướm Bảy Mầu lại lắc đầu: Cuộc sống là gì, nếu không phải là hưởng thụ những thú vui?

- Bấy giờ bác Ong Mật mới trịnh trọng tuyên bố: Đời sống không phải là hưởng lạc mà là lao động, lao động và lao động.

- Tất cả đều phi lý! Đời sống chỉ là tự do, là tung cánh trên ngàn mây- Anh Phượng Hoàng ngất ngư trên trời xanh dõng dạc phán.

- Tuy nhiên chị Tùng Bách chậm rãi khẳng định: Đời sống là một nỗ lực không ngừng để vươn cao.

- Cô Hồng Nhung cũng chẳng chịu: Đời sống chỉ là trao chuốt cho vẻ đẹp thêm duyên dáng.

- Chàng lãng tử mây lang thang lại thở dài ngao ngán: Cuộc đời chỉ là chia ly và đau khổ, đắng cay và nước mắt.

- Chị suối nhỏ thì thầm: Đời là sắc sắc không không, thế nên thay đổi, đổi thay không ngừng.

Cứ thế mọi sinh vật lần lượt nói lên tiếng nói của mình về ý nghĩa cuộc đời, còn nhà hiền triết thì gục xuống tắt thở, trên môi vẫn hé mở như muốn lập lại câu hỏi vì chưa tìm ra được câu trả lời.

Xem ra vị triết gia này bất hạnh hơn các loài vật, cây cỏ khác, bởi chúng còn biết chúng được sinh ra và hiện diện trong cuộc đời này để làm gì. Chúng sẽ thanh thản ra đi sau khi đã chu toàn tốt đẹp sứ mạng đã được giao phó.

***

Tuy nhiên, rất may cho chúng ta- những người tin vào Đức Kitô - cuộc sống không phải là điều vô nghĩa và cái chết không phải là dấu chấm hết. Chúng ta được kêu mời cầu nguyện cho các đẳng linh hồn cũng có nghĩa là chúng ta được quyền hy vọng vào một điều tốt đẹp hơn sau cuộc sống trần thế này. Chúng ta không phải lang thang vô định như nhà hiền triết kể trên, nhưng chúng ta đang tiến có định hướng, có mục tiêu và có “Đức Kitô là đường, là sự thật và là sự sống”. Chỉ nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô mà chúng ta dám thẳng thắn trả lời câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống.

***

Vâng! “Sự sống đời đời, đó là sự nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô” (Ga 17,3), để những ai cùng chết với Người thì sẽ được Phục Sinh vinh hiển.

Nguyễn Đức Thắng

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.

KHÔNG GIAN VÀ Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI

KHÔNG GIAN VÀ Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI


Trần Mỹ Duyệt


Ngày 20 tháng 7 năm 1969, phi hành gia Neil Alden Armstrong đã đặt chân lên mặt trăng. Biến cố này là một thành công lớn của nhân loại trong tiến trình chinh phục không gian. Nó cũng đã phá vỡ huyền thoại về chị hằng, cung quảng, ngọc thỏ, hay hằng nga trước đó; đặc biệt, đối với người Trung Hoa và Việt Nam.

Những gì con người biết được về mặt trăng sau biến cố này hoàn toàn trái ngược với những gì đã được hàng ngàn văn gia, thi sĩ ca tụng. Mặt của chị hằng không mịm màng nhưng là gồ ghề, lồi lõm với những miệng núi lửa, bình nguyên, thung lũng hay đồi núi. Da dẻ chị cũng không nõn nà, tươi mát những trái lại cực nóng về ban ngày, và lạnh buốt về ban đêm. Nét lộng lẫy và kiêu sa của chị, chẳng qua là mượn từ ánh sáng mặt trời và phản chiếu lại khiến cho người dưới đất tưởng nhầm rằng chị đẹp, chị xinh và thơ mộng. Khuôn mặt của chị cũng chỉ tròn trĩnh sơ sơ với đường kính 2.160 dặm. Chị chỉ nhẹ hơn trái đất chúng ta có 81,5 lần, và bẽn lẽn đứng cách xa trái đất với khoảng cách nhỏ nhoi trong không gian là 238.857 dặm. Tuy chỉ với khoảng cách như thế, nhưng nếu con người muốn lên thăm chị thì chỉ bằng cách nhìn lên chị vào những đêm rằm, hoặc mơ mộng vẽ vời qua trí tưởng tượng, chứ cho đến nay vẫn không có xe hơi, hoặc phản lực nào có thể chở chúng ta lên được. Riêng với một số khoa học gia đã mạo hiểm trong công tác kiếm tìm và chinh phục không gian, đã thực hiện giấc mộng của họ bằng những phương tiện tốn kém và rất giới hạn như vệ tinh, và phi thuyền, và phải vòng vòng du hành trong không gian qua những ngã khác nhau mà ta gọi là những quĩ đạo trái đất và quĩ đạo mặt trăng.

Chị hằng đẹp nhờ vào ánh sáng của mặt trời. Tuy có hơi tò mò, nhưng cho đến nay con người chưa dám nghĩ tới việc lên thăm ông mặt trời. Thứ nhất, vì ông chỉ là một khối lửa hừng hực bốc cháy. Sức nóng ngoài mặt của ông cũng hơn 1 triệu độ, và sức nóng sâu trong bụng ông tăng dần lên cả mấy triệu độ. Tóm lại, sức nóng của ông đủ để thiêu rụi tất cả những người và vật muốn đến gần ông. Từ trái đất đến nhà ông đường xa 93 triệu dặm. Câu truyện Lưu Nguyễn nhập thiên thai có thể đem sánh ví với trường hợp nếu con người lên thăm ông mặt trời rồi trở lại trái đất. Vì con đường ngàn dặm sơn khê này nếu vừa đi vừa về dù chỉ một lần thì cũng mất cả hàng thế kỷ. Lúc ấy sẽ chẳng ai nhận ra chúng ta nữa, vì tất cả những người ở vào thế hệ chúng ta khi rời trái đất đều đã thành người thiên cổ. Xa nhau như thế, mà đôi lần ông nổi khùng, hục hoặc một chút là trái đất thấy nóng ran. Điển hình là miền xích đạo của trái đất vì hơi xích lại gần ông một chút mà từ người đến vật gần như bị đốt cháy đen thui. Ở đó, dĩ nhiên là không ai phải lo mua máy sưởi, mà chỉ cần máy lạnh.

Trở về trái đất của chúng ta với đường kính bán cầu 7.900 dặm, và đường kính xích đạo 7.926 dặm. Với một khoảng cách xa mặt trời như vừa kể, để du hành một vòng quanh ông, trái đất phải phiêu bồng trong không gian 365,26 ngày. Còn như nếu chị hằng muốn lởn vởn quanh trái đất chúng ta, thì chị cũng phải đi mất 29,53 ngày.

Để có một cái nhìn bao quát về sự bao la của vũ trụ, ta chỉ cần nhìn vào thái dương hệ mặt trời là đủ. Thái dương hệ mặt trời là một hệ thống hành tinh và vệ tinh xoay quanh mặt trời gồm 4 hành tinh gần với trái đất là: Mercury (Thủy Tinh), Venus (Kim Tinh), Trái đất, và Mars (Hỏa Tinh. 4 hành tinh lớn xa khỏi với mặt trời là: Jupiter (Mộc Tinh), Saturn, Uranus (Thiên Vương Tinh), và Neptune (Hải Vương Tinh). Ngoài ra còn có Pluto, một hành tinh xa nhất tính từ khoảng cách mặt trời, và hơn 60 vệ tinh là những hành tinh nhỏ quay quanh các hành tinh vừa kể. Thí dụ, mặt trăng là một vệ tinh của trái đất. Tất cả hợp thành thái dương hệ theo thứ tự tính từ mặt trời:

* Mercury (Thủy Tinh): Hành tinh thứ nhất thuộc hệ thống mặt trời. Đường kính 3.000 dặm. Khoảng cách mặt trời 36.000.000 dặm, một khoảng cách ngắn nhất so với các hành tinh khác. Qũy đạo du hành quanh mặt trời 88 ngày.

* Vernus (Kim Tinh): Hành tinh thứ hai. Đường kính 7.700 dặm. Khoảng cách mặt trời 67.000.000 dặm. Qũy đạo du hành 225 ngày.

* Trái đất: Hành tinh thứ ba. Đường kính bán cầu 7.900 dặm, và đường kính xích đạo 7.926 dặm. Khoảng cách mặt trời 93 triệu dặm. Qũy đạo du hành 365,26 ngày.

* Mars (Hỏa Tinh): Hành tinh thứ bốn. Đường kính 4.230 dặm. Khoảng cách mặt trời 142.000.000 dặm. Qũy đạo du hành 686.9 ngày.

* Jupiter (Mộc Tinh): Hành tinh thứ năm. Hành tinh lớn nhất của thái dương hệ. Đường kính 88.640 dặm. Khoảng cách mặt trời 483.000.000 dặm. Qũy đạo du hành 11,86 năm.

* Saturn: Hành tinh thứ sáu. Đường kính 72.000 dặm. Khoảng cách mặt trời 886.000.000 dặm. Qũy đạo du hành 29,5 năm.

* Uranus (Thiên Vương Tinh): Hành tinh thứ bẩy. Đường kính 30.880 dặm. Khoảng cách mặt trời 1.783.000.000 dặm. Qũy đạo du hành 84,04 năm.

* Neptune (Hải Vương Tinh): Hành tinh thứ tám. Đường kính 39.930 dặm. Qũy đạo du hành 164,8 năm.

* Pluto: Hành tinh thứ chín. Đường kính nhỏ hơn trái đất. Khoảng cách mặt trời 3.671.000.000. Qũy đạo du hành 248,42 năm.

Khoảng cách hàng tỷ dặm trong thái dương hệ cũng chỉ là số không so với triệu triệu các tinh thể và tinh cầu ngoài không gian nếu chúng ta nhìn lên bầu trời vào những đêm thanh, và tìm hiểu về thuyết lỗ hổng đen của vũ trụ. Theo đó, hệ thống thái dương hệ chỉ là một phần rất nhỏ của ngân hà, mà trong không gian lại có hàng tỉ tỉ ngân hà như thế, và lỗ hổng không gian là một khoảng cách mịt mùng có khả năng nuốt trọn và cuốn hút những giải ngân hà. Cũng chính vì sự lớn lao của vũ trụ như vậy, mà các nhà thiên văn học đã phải dùng đến quang niên, tức là năm ánh sáng để đo đếm khoảng cách từ ngôi sao này đến ngôi sao khác. Chúng ta biết mỗi giây ánh sáng đi được 300.000 cây số. Mà mỗi giờ có 60 phút, và mỗi phút có 60 giây. Cứ như vậy, nhân lên một ngày có 24 giờ và một năm có 365 ngày, thì một năm ánh hay một quang niêm có chiều dài không gian đo được 5.878.000.000.000 dặm. Aáy thế, mà trong không gian, người ta phải dùng đến hàng tỉ năm ánh sáng để đi từ một hành tinh này đến một hành tinh khác, điều đó đủ cho biết vũ trụ bao la và trái đất của chúng ta, con người của chúng ta nhỏ bé đến đâu giữa cái mênh mông, bao la ấy. Cũng chính vì thế, nhiều người còn nghĩ đến giả thuyết người không gian, hoặc người vũ trụ. Tuy nhiên, qua các thiên lý kính tối tân nhất thế giới, và khả năng dò tìm sự sống nơi những hành tinh gần gũi với trái đất đều cho thấy không đâu ngoài trái đất có sự sống.

Cái bao la, lớn rộng của không gian thể lý như vừa trình bày, nếu đem so sánh với khoảng cách của không gian tâm lý thì còn kinh khủng hơn nữa. Thí dụ, hai kẻ yêu nhau và ở xa nhau, tuy thân xác ở cách xa, nhưng tình cảm và tình yêu như gần gũi, gắn bó. Ngược lại, nếu tình cảm và tình yêu ấy ở vào trạng thái xung khích nhau, thì dù ở ngay bên nhau, con người cũng thấy một khoảng cách không thể bù đắp được. Việt Nam ta có câu: “Đồng sàng, dị mộng”, để diễn tả cái tâm lý cách biệt này. Và từ ý niệm không gian tâm lý này, con người có thể kéo lại gần mình tất cả những gì mình muốn. Hoặc ngược lại, trở thành một hành tinh lạc lõng giữa cái bao la của vòm trời nhân sinh.

Tóm lại, đứng trước sự bao la của vũ trụ và của tâm lý, cách riêng sự bao la của vũ trụ mà thôi, con người không khỏi thắc mắc, ai đã làm nên con tầu vũ trụ này? Nó to lớn như thế nào? Nguồn năng lượng nào làm cho bộ máy vũ trụ ấy vận hành? Đối với những câu hỏi như thế, tự nhiên con người cảm thấy như Thượng Đế cũng đang muốn hỏi mình:

“Ngươi ở đâu khi Ta đặt nền móng trái đất?
Nói đi nếu ngươi biết.
Ai đã đặt kích thước cho nó, ngươi có biết không?
Ai đã giăng giây đo lường nó.
Đế của nó đã chìm sâu trên điểm tựa nào?
Và ai đã đặt viên đá đầu tiên xây cất nó,
giữa tiếng nhạc hòa vui của sao mai,
giữa tiếng reo vui của con cái Chúa”
(Jb 38:4-7).

Đến đây thì câu trả lời của con người coi như bế tắc. Và sự tìm tòi của trí óc con người coi như đã bị giới hạn. 17 năm trước, phi thuyền Challenge đưa 7 phi hành gia vào không gian đã nổ tung sau khi vừa rời dàn phóng tại Florida khiến cho cả thế giới thương tiếc và ngậm ngùi. Ngày 1 tháng 2 năm 2003 vừa qua, phi thuyền Columbia vừa từ vùng quĩ đạo trở về mang theo cũng 7 phi hành gia sau một chuyến thực hành những thí nghiệm trên đó, nhưng chỉ 16 phút trước khi chạm đất, nó cũng đã phát nổ và đưa tất cả 7 phi hành gia vào một cuộc du hành vĩnh viễn. Khả năng con người xem ra chỉ vỏn vẹn đến thế, nhưng nếu ngông cuồng, tự đại muốn làm chủ vũ trụ này e sẽ gặp rắc rối.

Trước cái bao la của vũ trụ, và trước sự nhỏ bé của trái đất cũng như con người, có lẽ chúng ta phải trở về với câu nói bất hủ của Pascal Blaise (1623-1662), một triết gia và toán học gia người Pháp: “Khoa học tinh thông làm cho con người gần Thượng Đế. Khoa học nông cạn làm cho con người xa Thượng Đế”, để biết ơn Thượng Đế về cuộc sống, và về vũ trụ bao la mà Ngài đã tạo dựng cho con người do lòng thương yêu vô biên của Ngài, và để sống nên, sống xứng đáng với ơn gọi làm người của mình.


Không Gian

Không Gian là gì?

Nói đến không gian người ta thường nghĩ đến, trước hết là không trung vũ trụ, thứ hai là địa điểm nơi chốn, và thứ ba là tầm vóc kích thước.

Trước hết, không gian liên quan đến không trung vũ trụ, được gọi là một không khoảng hay khoảng không (space) bao la vĩ đại hầu như vô cùng bất tận, vượt ra ngoài trí óc tượng tượng của con người và khả năng khám phá của khoa học đối với cấu tạo khôn thấu và tầm kích khôn lường của nó, đến nỗi, có thể nói không trung bầu trời là một mầu nhiệm, mầu nhiệm không gian, một mầu nhiệm tự nhiên mà dù con người có đóng vai làm chủ trái đất cũng không thể nào làm chủ không gian. Chiếc phi thuyền Columbia của Hoa Kỳ bị tan tành, với 7 mạng người 2 nữ và 5 nam phi hành gia trẻ trung trong đó, khi bắt đầu trở về với bầu khí quyển của trái đất vào chính ngày mùng một Tết Quí Mùi Âm Lịch, 1/2/2003, vừa rồi là một thí dụ điển hình. Hiện nay khoa học mới chỉ ước lượng một cách chung chung là có cả hằng triệu, hằng tỉ hành tinh hệ (galaxies) trong vũ trụ này, trong đó có một hành tinh hệ gần thái dương hệ nhất được gọi là Giải Ngân Hà (Milky Way), và có ba hành tinh hệ gần Giải Ngân Hà nhất mà con người không cần viễn vọng kính cũng có thể nhìn thấy từ trái đất, đó là, nếu nhìn từ Bắc Cực, hành tinh hệ Andromeda Nebula, cách trái đất 2 triệu năm ánh sáng, và nếu nhìn từ Nam Cực, hai hành tinh hệ nhỏ hơn, Magellanic Clouds, cách trái đất từ 160 đến 180 ngàn năm ánh sáng. Riêng nội bộ cấu trúc của mỗi hành tinh hệ, nếu nhỏ cũng rộng tới mấy ngàn năm ánh sáng, trong khi một tinh hệ lớn có thể rộng tới cả nửa triệu năm ánh sáng. Nếu theo khoa học, mỗi giây vận tốc ánh sáng đi được 186.282 dặm hay 299.792 cây số, tức mỗi giây (hay mỗi tiếng tíc tắc của đồng hồ) ánh sáng đi được 7 vòng rưỡi trái đất (với chu vi từ đông sang tây rộng 24.901 dặm, hay 40.075 cây số, tương đương với một chiếc xe chạy 366 ngày không ngừng với tốc độ 68 dặm một giờ), thử hỏi một ngày có 24 tiếng (tức có 86.400 giây) ánh sáng sẽ đi được bao xa, một tháng có 30 ngày ánh sáng còn đi xa tới đâu, và một năm có 365 ngày ánh sáng đi xa tới cỡ nào. Cứ nghĩ đến 2000 năm lịch sử Kitô Giáo thôi con người đã thấy lâu lắm rồi, xưa lắm rồi, cổ lắm rồi, đằng này ánh sáng phải đi hết 2 triệu năm ánh sáng mới từ trái đất tới được hành tinh hệ Andromeda Nebula, thì thử hỏi vũ trụ không gian với cả tỉ hành tinh hệ khác nhau như thế không bao la bát ngát hầu như vô cùng bất tận hay sao?

Sau nữa, không gian liên quan đến địa điểm nơi chốn là những gì ngôn ngữ loài người thường diễn tả bằng những trạng từ vị trí, như trên, dưới, trong, ngoài, đây, đó, xa, gần, đông, tây, nam, bắc v.v. Nghĩa là, không gian ở đây liên quan đến môi trường, đến hoàn cảnh. Về không gian theo nghĩa thứ hai, nghĩa môi trường này, con vật tự nhiên có một cảm quan, một trực giác bén nhậy hơn hẳn con người, ở chỗ, loài vật (như đàn chim, đàn ong, đàn kiến) không bao giờ bị đi lạc, dù thỉnh thoảng có con bị lạc đàn, trong khi đó, dù có địa bàn hay hải bàn, con người vẫn hay bị lạc đường, lạc hướng. Cảnh sát ngày nay đã không phải dùng đến chó săn để truy lùng thủ phạm hay sao? Con người ngày xưa đã không dùng chim bồ câu để đưa thư hay sao? Con người mù lòa ngày nay đã không nhờ chó dẫn đường đi nước bước hay sao? Thế nhưng, đối với con người, không gian theo nghĩa môi trường này còn có tính chất phức tạp hơn nữa, tính chất chẳng những liên quan đến thể lý, mà còn liên quan đến cả tâm lý nữa. Bởi thế mới có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”. Tức là, một khi yêu nhau thì xa cũng gần, trái lại, không yêu nhau thì gần cũng xa. Hai vợ chồng dù nằm cùng một giường, nhưng nếu không gắn bó với nhau thì cái giường phu thê đó là một không gian “nghìn trùng xa cách”. Xa xôi cách trở mà lúc nào cũng nhớ thương nhau không hơn là đoàn tụ gia đình rồi tan vỡ hôn nhân hay sao. Thế nhưng, theo tâm lý tự nhiên, đã yêu nhau bao giờ cũng muốn, cũng thích ở gần nhau, ở bên nhau. Tình yêu chân chính chẳng những làm cho mọi sự gần gũi nhau, mà còn làm cho tất cả nên một với nhau, dù xung khắc nhau. Theo nghĩa này, có thể nói gia đình là một không gian yêu thương. Thậm chí chính tâm lý của con người cũng là một không gian. Vì con tim con người có thể ôm ấp tất cả những gì con người yêu thích nhất, ký ức của con người có thể “chất chứa” tất cả những biến cố hay sự vật liên quan đến cuộc đời buồn vui của họ. Có nghĩa là tất cả mọi sự trên đời này, xẩy ra trong thời gian và không gian, đều có thể được lưu trữ “trong” tâm khảm của con người. Giống như một cái băng hay đĩa điện toán có khả năng chứa được một số tín liệu khổng lồ thay chỗ cho cả một bộ tự điển bách khoa hay thậm chí cho cả thư viện “rộng lớn”. Như thế, cái đĩa hay cái băng điện toán nhỏ bé này là một không khoảng hay một không gian có sức dung chứa bằng một thư viện, một tủ sách. Ngày nay, chính nhờ phương tiện truyền thông đại chúng tối tân mà thế giới con người đã trở thành một ngôi lành hoàn vũ “global village”. Có thể nói, nếu gia đình là không gian yêu thương thì phương tiện truyền thông là không gian hội ngộ.

Sau hết, không gian liên quan đến tầm vóc kích thước, như được diễn tả qua những tĩnh từ to, bé, cao, thấp, rộng, hẹp, dài, ngắn, sâu, cạn v.v. Nghĩa là một không gian về hình học, một không gian được gọi là ba chiều, chiều dài, chiều rộng và chiều cao. Thế nhưng, tầm vóc kích thước được gọi là không gian ba chiều theo hình học này chỉ mới diễn tả được kích thước và tầm vóc bề ngoài của mỗi sự vật mà thôi, chứ chưa diễn tả được chiều sâu của nó, nếu thiếu chiều kích thời gian, một chiều kích làm cho không gian trở thành một thứ không gian bốn chiều. Tuy nhiên, không gian bốn chiều ở đây, nếu được áp dụng vào riêng lãnh vực của không trung vũ trụ, thì muốn biết không trung vũ trụ này lớn đến cỡ nào, dài rộng bao nhiêu, khoa học gia cần phải dùng đến thời gian, như đã đề cập đến trên đây. Nếu được áp dụng cho tất cả mọi sự, kể cả không trung vũ trụ, thì chiều kích thời gian đây được áp dụng cho việc phát triển của sinh vật, thay đổi của khoáng vật, và giới hạn của mọi vật. Chẳng hạn một sinh vật lúc còn nhỏ khác với lúc trưởng thành về tầm vóc và kích thước, lớn hơn về chiều cao, to hơn về chiều rộng v.v. Cái khoảng cách cách biệt về tầm vóc và kích thước giữa hai thời kỳ phát triển của sinh vật đây không cho thấy chiều kích thời gian nơi không gian sinh vật hay sao? “Nước chảy đá mòn” cũng không cho thấy chiều kích thời gian nơi không gian khoáng chất hay sao? Mọi sự vật đều tồn tại đến một thời gian nào đó thôi, rồi qua đi, rồi biến dạng hay biến thể theo định luật tuần hoàn của trời đất, không cho thấy chiều kích thời gian nơi không gian vạn vật hay sao? Vậy nếu thời gian là một chiều kích của không gian, chiều kích thứ bốn của không gian, thì không gian đây đồng nghĩa với thế gian, một thực tại bao gồm cả ba phạm trù không gian, thời gian và nhân gian. Nhưng, nếu không gian lại bị giới hạn trong thời gian, thì không gian đây là tất cả thiên nhiên tạo vật hữu hình, có hình hài, tầm vóc, kích thước, hiện hữu trong thời gian, bao gồm cả khoáng vật, như khí, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, lẫn sinh vật, như thực vật, động vật và nhân vật. Có thể ví không gian trong thời gian đây là chính bộ mặt của thế gian, là chân dung thế gian.

Không Gian từ đâu mà có?

Thế nhưng, nếu không gian là tất cả thiên nhiên tạo vật hữu hình hiện hữu trong thời gian thì vấn đề được đặt ra ở đây là, không gian (tức không trung vũ trụ bao gồm cả hành tinh trái đất có sinh vật này) từ đâu mà có? Theo khoa học, lý thuyết về việc xuất hiện của không gian vũ trụ được hầu hết các khoa học gia công nhận, đó là thái dương hệ được phát triển từ một thiên tinh vân (nebula), một thiên tinh thể đầu tiên chất chứa cả một đám mây khí cùng với những mảnh thiết thạch li ti. Mặt trời có thể đã được hình thành từ tâm điểm của thiên tinh thể đầu tiên này. Khi thiên tinh vân này chuyển động chung quanh nhân của nó là mặt trời thì nó từ từ bị san bằng. Những phần của đám mây khí ấy bắt đầu xoay giống như những cái xoáy (eddies) trong giòng thủy triều. Hơi khí và bụi tụ lại gần tâm điểm của những cái xoáy ấy. Việc tụ hợp của hơi khí và bụi được phát triển bằng cách thu hút những phân tử chất thể ở gần đó. Việc tụ hợp này dần dần phát triển để trở thành những hành tinh xoay xoay mà hiện nay đang quay quanh mặt trời. Riêng hành tinh trái đất được hình thành đầu tiên từ hơi khí chuyển sang thể lỏng để trở thành thể đặc, sau 4 tỉ rưỡi năm.

Ngoài ra, một trong những thuyết có lý nhất để cắt nghĩa về việc hình thành của vũ trụ, những gì đã xẩy ra cho vũ trụ trong quá khứ cũng như tương lai, theo các khoa học gia, đó là thuyết “tưng bừng khai trương” (big bang). Theo thuyết này thì không gian vũ trụ được bắt đầu xuất hiện từ một cuộc bùng nổ xẩy ra khoảng từ 10 đến 20 tỉ năm trước đây. Ngay sau cuộc bùng nổ này, vũ trụ không gian chỉ có một thứ phóng xạ mạnh. Thứ phóng xạ này hình thành một điểm phát triển nhanh chóng được gọi là hỏa cầu nguyên khởi (primordial fireball). Sau đó khoảng mấy trăm năm, thì hỏa cầu này có phần chính là chất thể, chính yếu ở dạng khinh khí, và một ít chất hơi nhẹ khác như Helium của khí cầu. Cũng như chất phóng xạ, chất thể của hỏa cầu tiếp tục bớt đi tỉ trọng của nó, để rồi qua thời gian, nó vỡ ra thành những khối khổng lồ, đó là những hành tinh hệ, trong đó, những khối nhỏ hơn trở thành những hành tinh. Trong ít là một thuộc những khối này trở thành một nhóm hành tinh được gọi là thái dương hệ. Các thái dương hệ vẫn đang chuyển vận xa nhau hơn nữa, và có thể trong vòng 70 tỉ năm nữa, chúng lại tụ hợp lại với nhau, bấy giờ tất cả mọi chất thể của vũ trụ này sẽ bùng nổ một lần nữa để vũ trụ giống như hiện nay tiến vào một giai đoạn mới.

Phải, về nguồn gốc của không gian vũ trụ này, theo khả năng và lãnh vực của mình, cho đến nay, khoa học chỉ có thể khám phá và giải thích được đến thế. Còn về vấn đề từ đâu xuất hiện thiên tinh vân đầu tiên và tại sao lại có cuộc bùng nổ ban đầu là những gì (bao gồm cả chất liệu đệ nhất và tác động đệ nhất) khơi nguồn nên không gian vũ trụ này, thì phải nhờ đến khả năng của triết học. Theo triết học cũng như lập luận tự nhiên, một lập luận triết học dầu sao cũng được dựa vào khoa học, vào những quan sát thực tế, thì thiên nhiên tạo vật không thể nào tự mình mà có, bằng không nó đã là và chính là Thượng Đế Tối Cao, là Thực Tại Thần Linh bất biến, là Nguyên Lý Đệ Nhất tác động, là Sự Hữu Toàn Hảo vĩnh hằng. Nếu thiên nhiên tạo vật thực sự được dựng nên mới có, thì, theo Mạc Khải Do Thái Giáo, qua chương đầu tiên của Sách Sáng Thế Ký, một Mạc Khải được khoa thần học Kitô Giáo giảng dạy về tín lý rằng, tất cả mọi sự, mọi tạo sinh đều bởi không mà có, tức đều được Đấng Tạo Hóa vô cùng toàn năng dựng nên từ hư vô. Như thế, theo triết học, nhất là theo thần học thì không gian này bởi không mà có, tức bởi Tạo Hóa mà có. Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao Tạo Hóa đã dựng nên thiên nhiên tạo vật? Một phần của câu giải đáp cho vấn nạn tại sao liên quan đến nguồn gốc hiện hữu của thiên nhiên tạo vật này được tìm thấy nơi mục đích hiện hữu của không gian, của thiên nhiên tạo vật. Vậy, không gian hiện hữu để làm gì?

Không gian hiện hữu để làm gì?

Mục đích hiện hữu của thiên nhiên tạo vật, của không gian vũ trụ này có liên hệ mật thiết đến giá trị phổ quát của nó nói chung, nhất là đến giá trị đặc thù của loài người nói riêng. Trước hết, giá trị của tất cả mọi sự trong thiên nhiên tạo vật này, kể cả con người là đệ nhất tạo vật đi nữa, đều ngang hàng với nhau, đều bình đẳng như nhau, đều có giá trị bằng nhau, bởi vì, tất cả đều là tạo vật trước nhan Đấng Hóa Công, đều là tạo vật của Ngài, đều từ hư vô mà có, đều bất toàn chứ không toàn hảo như Ngài, đều hữu hạn chứ không vô hạn như Ngài. Tuy nhiên, vì thiên nhiên tạo vật có một cấp trật đàng hoàng, từ loài khoáng chất vô hồn, như các chất khí, lỏng và đặc trong trời đất, đến loài sinh vật, như loài thực vật có sinh hồn, loài động vật có giác hồn, và loài nhân vật có linh hồn, mà giá trị của mỗi loài đều khác nhau, trong đó, loài có giá nhất là loài người, loài làm chủ trái đất, loài được quyền sử dụng tất cả mọi nguồn lợi thiên nhiên chung quanh mình để chẳng những sinh tồn mà còn phát triển nữa. Như thế, giá trị thứ hai của tất cả mọi sự đây liên quan đến con người, có thể gọi là giá trị nhân bản. Đó là giá trị lợi dụng. Vật gì con người thích nhất (như kim cương hay vàng bạc), hay làm lợi cho con người nhất (như tài liệu hay tiện nghi), hoặc cần thiết cho con người nhất (như bát cơm hay ly nước khi sắp chết đói chết khát) là có giá nhất.

Tuy nhiên, không phải vì thế, vì giá trị nhân bản, giá trị lợi dụng nơi thiên nhiên tạo vật mà con người muốn sử dụng chúng thế nào cũng được. Như hành hạ xúc vật vô cớ. Đốt rừng bừa bãi. Bởi vì, trước hết, môi sinh được dựng nên cho chung nhân loại chứ không phải cho riêng một cá nhân hay tập đoàn nào. Cho dù, theo địa dư hay pháp lý, cá nhân hay quốc gia nào có làm chủ một sản vật gì đi nữa, cũng là để sinh lợi chung cho nhân quần xã hội. Như thế, giá trị của thiên nhiên tạo vật là giá trị phục vụ loài người chứ không phải giá trị để cho loài người hưởng thụ vị kỷ. Con người không được lạm dụng, tác hại hay tàn phá môi sinh, thiên nhiên tạo vật, hay không gian, sau nữa, là vì giá trị tự tại của chúng, nghĩa là chúng có giá trị tự bản chất của chúng, chứ không phải khi nào con người lợi dụng chúng hay khi chúng làm lợi hoặc cần thiết cho con người chúng mới có giá trị. Chẳng hạn một bông hoa, không phải nó chỉ đẹp khi sắc của nó được lọt vào mắt người ta, hay thơm vì người ta ngửi thấy hương của nó. Không phải sầu riêng làm cho nhiều người phải bịt mũi lắc đầu thì tự bản chất của nó chẳng có giá trị gì, đáng đổ đi v.v.

Tóm lại, theo giá trị của mình, giá trị tạo vật, giá trị nhân bản và giá trị tự tại, thiên nhiên tạo vật sở dĩ hiện hữu là để phục vụ, phục vụ đệ nhất tạo vật của chúng là con người. Kể cả vầng dương cũng hiện hữu để phục vụ loài người, ở chỗ làm cho mọi vật tồn tại và sinh động bởi ánh sáng và nhiệt năng của nó, nhờ đó con người mới có thể lợi dụng môi sinh cho việc phát triển xã hội loài người của mình. Đó là lý do, một khi con người lạm dụng thiên nhiên tạo vật, tàn phá môi sinh, trong đó có cả sự sống của con người, những mầm thai trong bụng mẹ, là con người đang đi đến chỗ tự hủy diệt mình vậy. Nếu con người lạm dụng thiên nhiên tạo vật càng ngày càng đi đến chỗ tự diệt như thế thì đó không phải là dấu chứng tỏ cho thấy con người không phải là chủ nhân ông của thiên nhiên tạo vật, mà chỉ là quản lý cho Đấng Hóa Công, Đấng đã dựng nên họ để họ thay Ngài làm chủ trái đất, ở chỗ sinh lợi những gì Ngài đã ban cho họ để họ làm vốn kinh doanh theo ý định thần linh của Ngài. Như thế, vì thiên nhiên tạo vật được Tạo Hóa dựng nên vì con người và cho con người thì chúng cũng chỉ được nên trọn nhờ con người và bởi con người mà thôi. Ở chỗ, con người biết sử dụng chúng theo ý Đấng đã ban chúng cho họ. Một khi con người biết sử dụng tất cả mọi sự với tư cách làm chủ chứ không phải làm tôi cho tạo vật, thì chẳng những chính họ đạt đến tầm vóc viên trọn của mình, mà còn làm cho tất cả mọi sự nên trọn theo ý định thần linh nữa. Đó là tiến trình về nguồn của riêng nhân loại cũng như của chung thiên nhiên tạo vật vậy.

Không gian sẽ đi về đâu?

Vấn đề không gian sẽ đi về đâu đã được giải đáp ngay ở câu cuối cùng trên đây, tức là sẽ đi về nguồn, về với ý định thần linh của Đấng đã tạo dựng nên mình. Đó là lý do không gian có tính cách giới hạn. Giới hạn của không gian ở đây như thế không phải chỉ ở tại thể chất hữu hình của không gian trong thời gian, mà còn ở tại tiến trình qui đạt của không gian nữa. Một khi không gian đạt đến cùng đích của mình thì nó sẽ qua đi hay nên trọn. Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là phải chăng không gian qua đi là nên trọn, hay nên trọn rồi mới qua đi? Qua đi ở đây là gì và như thế nào?

Thực tế cho thấy, trong sinh vật, cả thực vật, động vật lẫn nhân vật, đều có những vật chết non, chết yểu. Bởi vậy, qua đi như thế không phải là nên trọn, theo nghĩa đạt được tầm vóc toàn hảo của mình. Ngược lại, kể cả trường hợp chết già song cũng vẫn chưa nên trọn, vì chính cái chết là thực tại cho thấy sinh vật đi đến chỗ suy thoái, băng hoại, rữa nát. Do đó, về thể lý của chung sinh vật, cách riêng về cả tâm lý nơi con người, càng già càng xấu, càng yếu v.v. Tuy nhiên, theo luật tuần hoàn tự nhiên của thời tiết cho thấy, sau khi thiên nhiên tạo vật vào thu tàn tạ và vào đông chết chóc, thì nó lại sang xuân tươi mới và sang hạ hoạt năng thế nào, chắc chắn không gian vũ trụ này, một ngày kia, sau ngày cùng tháng tận được gọi là tận thế, nó sẽ được canh tân đổi mới.

Đúng thế, theo thần học và niềm tin Kitô Giáo, tất cả mọi sự Thiên Chúa đã dựng nên từ hư vô sẽ không trở về với hư vô sau khi chết. Đó là lý do, ở lễ nghi an táng của Giáo Hội Công Giáo, vị linh mục chủ tọa bao giờ cũng đọc câu: “sự sống thay đổi chứ không mất đi”. Chẳng những Kitô giáo mà bất cứ một đạo giáo nào thực sự tin có Thần Linh, có Đấng Tối Cao, có một Quyền Lực Cứu Độ vô song, đều tin tưởng có đời sau, có sự sống vĩnh cửu. Bằng không, con người sống ở trên trần gian này, và tất cả mọi sự trong thiên nhiên tạo vật này, đều hiện hữu một cách vô nghĩa, chết là hết, chẳng có một giá trị hiện hữu nào cả. Như thế, không gian qua đi ở đây, trước hết là về nguồn, là đạt tới cùng đích của mình, sau nữa, bằng cách được biến đổi, một cuộc biến đổi được hiện thực ngay lúc chúng còn hiện hữu trong thời gian, khi chúng phản ánh ý định thần linh của Đấng Tối Cao, một phản ánh có tác dụng biến đổi tình trạng từ bất toàn nên hoàn toàn, từ vật chất nên linh thiêng, từ hữu hạn thành vô hạn, tức là một cuộc biến đổi nên giống như Đấng Tự Hữu và Toàn Hữu mà con người linh ư vạn vật là tạo vật duy nhất trong không gian đã được dựng nên theo hình ảnh của Ngài, ở chỗ họ có hồn thiêng bất tử, và được dựng nên tương tự như Ngài, ở chỗ có ý thức tâm linh và tự do tác hành.

Tâm Phương Cao Tấn Tĩnh, BVL
(Bài chia sẻ cho buổi phát thanh Vui Mừng Và Hy Vọng 56, 9/2/2003


+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
"Hãy sám hối" "Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại", Đức Mẹ Lộ Đức
Mỗi ngày hãy đọc ít nhất: 1 Kinh Lạy Cha + 3 Kinh Kính Mừng + 1 Kinh Sáng Danh + 1 Kinh cầu cho linh hồn mồ côi. Bạn đã cứu được 1 linh hồn trong luyện ngục rồi đó.
Related Posts with Thumbnails

Tìm kiếm trên website MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Loading